TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

VĂN HỌC - CẢM NHẬN TÁC PHẨM

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Lich_nghi_tet_2026.png Z6981877611518_a51304830c022bcdb701655be0dafef7.jpg Z6981877581757_0bcd555d716509db0f229d3cb3debdfd.jpg 10.jpg TRUONG_TRUNG_HOC_PHO_THONG_PHAM_PHU_THU_DA_NANG_Chao_mung_nam_hoc_moi_Nam_hoc_2025__2026_1.png 11.jpg 16.jpg 12.jpg 7.jpg 3.jpg 4.jpg 2.jpg 1.jpg BANDOTUNHIEN.jpg BANDODANCU.jpg 53.png

    Mái trường mến yêu - Bài hát Truyền thống Trường THPT Phạm Phú Thứ - TP Đà Nẵng

    Tài liệu Giáo dục địa phương thành phố Đà Nẵng lớp 12

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Thư viện Trường THPT Phạm Phú Thứ
    Ngày gửi: 21h:00' 28-02-2025
    Dung lượng: 10.4 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    Ký bởi: SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    Cơ quan: ỦY BAN NHÂN DÂN
    THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
    Ngày ký: 2025-02-19 08:36:33 +07:00

    UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    ao

    m

    tp
    2

    NGUYỄN MINH HÙNG – MAI TẤN LINH (ĐỒNG CHỦ BIÊN)
    HỒ QUỐC CHÍNH – PHẠM ĐÌNH ĐƯỢC– VÕ VĂN MINH – LÊ VĂN PHAN
    HÀ THÚC QUANG – LƯU ANH RÔ – HUỲNH ĐÌNH QUỐC THIỆN
    BÙI VĂN TIẾNG – PHẠM THỊ TRINH – HÀ VỸ

    om
    tp

    2-

    th

    TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG

    th

    ao
    m

    tp

    22

    1/
    0

    2/
    20

    25

    13

    :5

    7:

    44

    -th

    ao

    m

    tp

    2-

    th
    a

    THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    Lớ p

    12

    MỤC LỤC
    Nội dung

    Chủ đề

    Trang

    Danh nhân lịch sử tiêu biểu của Đất Quảng

    5

    2

    Sơ lược về văn học viết Đất Quảng
    từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay

    34

    3

    Văn nghệ sĩ tiêu biểu của Đất Quảng

    4

    Đô thị hoá ở Đà Nẵng

    5

    Lao động, việc làm và định hướng nghề nghiệp

    tp
    2

    1

    2-

    th

    ao

    m

    42
    60

    om
    tp

    70

    Nguồn

    Hà Thúc Quang

    H1.15

    22

    H1.16

    23

    H1.17

    24

    H1.18

    25

    Wikipedia

    10

    Báo Quảng Nam
    Cổng thông tin điện tử thị xã
    Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
    Báo Quảng Nam

    Báo Đà Nẵng
    Website Hội Liên hiệp Phụ nữ
    thành phố Đà Nẵng
    Nguyễn Bá Khoản, Wikipedia

    H1.2

    8

    Báo Đà Nẵng

    H1.3

    9

    H1.4

    10

    H1.5

    H1.19

    26

    H1.6

    12

    Bảo tàng Đà Nẵng

    H1.20

    27

    H1.7

    13

    H1.21

    28

    H1.8

    14

    H1.22

    29

    Internet
    Cổng thông tin điện tử Đảng
    bộ Thành phố Hồ Chí Minh
    Đài Phát thanh và Truyền
    hình thành phố Đà Nẵng
    Báo Quân đội Nhân dân

    H1.9

    H1.23

    30

    Internet

    H1.10

    16

    Bảo tàng Lịch sử quốc gia

    H1.11

    17

    Cổng thông tin điện tử thị xã
    Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

    H1.12

    18

    Báo điện tử Đà Nẵng

    H1.13

    19

    H1.14

    20

    m

    6

    Hình

    ao

    H1.1

    44

    7:

    :5

    13

    25

    2/
    20

    1/
    0

    Website Trường THCS
    Huỳnh Bá Chánh
    Bảo tàng Lịch sử quốc gia
    Họa sĩ Đỗ Lệnh Tuấn, Bưu
    chính Việt Nam

    22

    ao
    m

    th

    Nguồn

    -th

    Trang

    tp

    Trang

    tp

    Hình

    2-

    th
    a

    DANH SÁCH HÌNH ẢNH SỬ DỤNG TRONG TÀI LIỆU

    15

    Quảng Nam đất nước và
    nhân vật
    Nhóm nhiếp ảnh học sinh
    Trường THPT Thái Phiên

    H2.1 H2.9
    H3.1 H3.16
    H4.1 H4.7
    H5.1 H5.5
    Ảnh
    bìa

    33-38 Ban biên soạn
    40-56 Ban biên soạn
    59-68 Ban biên soạn
    71-75 Ban biên soạn
    Bìa

    Nguyễn Tấn Phát

    th

    ao

    m

    tp
    2

    LỜI NÓI ĐẦU

    om
    tp

    2-

    Các em học sinh thân mến!

    2-

    th
    a

    Các em đang sinh sống và học tập tại thành phố Đà Nẵng –
    một trong những trung tâm chính trị – kinh tế – văn hoá của khu vực
    miền Trung và Tây Nguyên.

    1/
    0

    2/
    20

    25

    13

    :5

    7:

    44

    -th

    ao

    m

    tp

    Tài liệu Giáo dục địa phương thành phố Đà Nẵng lớp 12 được
    biên soạn nhằm cung cấp cho các em những hiểu biết cơ bản về lịch
    sử, địa lí, văn hoá, môi trường,... của thành phố Đà Nẵng. Tài liệu
    gồm 5 chủ đề, mỗi chủ đề được xây dựng theo cấu trúc thống nhất
    và đảm bảo tính lô-gic giữa các hoạt động Mở đầu – Kiến thức mới –
    Luyện tập – Vận dụng. Với cấu trúc này, các em sẽ thực hiện các hoạt
    động dưới sự hướng dẫn của giáo viên để hoàn thành tốt nhiệm vụ
    học tập. Từ đó, các em có thêm cơ hội hiểu biết đúng về những giá
    trị đặc trưng của vùng đất này, có niềm tự hào và ý thức trách nhiệm
    trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị đó.

    NHÓM TÁC GIẢ

    th

    ao
    m

    tp

    22

    Hi vọng tài liệu này sẽ mang lại cho các em những kiến thức
    bổ ích và những trải nghiệm thú vị.

    3

    om
    tp

    2-

    th

    ao

    m

    tp
    2

    Kí hiệu và hướng dẫn sử dụng tài liệu

    Giới thiệu một số nội dung liên quan đến
    chủ đề, định hướng việc tổ chức các hoạt
    động học tập.

    Giải thích, cung cấp thông tin liên quan
    đến nội dung chủ đề.

    1/
    0

    2/
    20

    25

    13

    :5

    7:

    KIẾN THỨC MỚI

    44

    -th

    ao

    m

    tp

    2-

    th
    a

    MỞ ĐẦU

    Từ kiến thức, học sinh được rèn luyện
    phát triển các kĩ năng phù hợp với nội dung
    chủ đề.

    th

    ao
    m

    tp

    22

    LUYỆN TẬP

    VẬN DỤNG

    4

    Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào
    thực tiễn phù hợp với nội dung chủ đề.

    DANH NHÂN LỊCH SỬ TIÊU BIỂU
    CỦA ĐẤT QUẢNG

    tp
    2

    Mục tiêu:

    44

    -th

    ao

    m

    tp

    2-

    th
    a

    om
    tp

    2-

    th

    ao

    m

    – Giải thích được khái niệm danh nhân lịch sử và nêu những nét chính về
    vai trò của danh nhân lịch sử.
    – Biết sưu tầm và sử dụng tư liệu lịch sử để tìm hiểu thân thế, sự nghiệp
    danh nhân lịch sử tiêu biểu của Đất Quảng.
    – Đánh giá được vai trò danh nhân lịch sử tiêu biểu của Đất Quảng đối với
    quê hương đất nước.
    – Giáo dục học sinh có lòng kính trọng, tri ân và học tập gương sáng danh
    nhân lịch sử của Đất Quảng.

    13

    :5

    7:

    MỞ ĐẦU

    th

    ao
    m

    tp

    22

    1/
    0

    2/
    20

    25

    Theo sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn(1), ở
    mục tỉnh Quảng Nam, phần phong tục, có đoạn chép về đất và người xứ Quảng
    như sau: "Đàn ông thì lo việc cày ruộng trồng dâu, đàn bà chuyên nghề nuôi tằm
    dệt cửi. Núi sông thanh tú cho nên nhiều người có tư chất thông minh dễ học. Sĩ
    phu có khí tiết cứng cỏi dám nói, nhưng vì thổ lực không hậu và thế nước chảy
    gấp, nên tính người hay nóng nảy ít trầm tĩnh, duy có người học vấn uyên thâm
    mới không bị phong khí ràng buộc…".



    (1)

    Đoạn trích trên nhận xét những gì về đất và người xứ Quảng?

    Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 1, NXB Lao động, 2012, tr. 334).

    5

    KIẾN THỨC MỚI

    m

    tp

    2-

    th
    a

    om
    tp

    2-

    th

    ao

    m

    tp
    2

    I. Khái niệm và vai trò của danh nhân lịch sử
    Danh nhân lịch sử là những người nổi tiếng, có những cống hiến nổi bật, có
    tầm ảnh hưởng lớn đến cộng đồng, được xã hội ghi nhận, lưu danh trong lịch sử
    dân tộc. Tuỳ theo lĩnh vực hoạt động và thành tựu, danh nhân lịch sử có thể là
    những nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hoá, nhà khoa học,… Trong tiến trình
    phát triển của lịch sử dân tộc, danh nhân lịch sử là người giữ vai trò quan trọng.
    Họ là người khởi xướng, tập hợp lực lượng, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa chống
    ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập, tự do cho dân tộc. Họ đi đầu trong công cuộc cải
    cách, đổi mới; góp công lớn làm thay đổi diện mạo quê hương đất nước trên các
    lĩnh vực chính trị – tư tưởng, kinh tế – xã hội, khoa học – kĩ thuật, văn hoá – nghệ
    thuật,…

    44

    -th

    ao

    Trình bày khái niệm danh nhân lịch sử. Kể tên một số danh nhân lịch sử
    Đất Quảng.

    7:

    II. Danh nhân lịch sử tiêu biểu của Đất Quảng

    2/
    20

    25

    13

    :5

    Danh nhân lịch sử của Đất Quảng gắn liền từ buổi đầu mở cõi về phương Nam
    cho đến ngày nay. Đó là những con người tài năng, đức độ và nổi tiếng trên nhiều
    lĩnh vực trong lịch sử. Họ có công lao lớn đối với quê hương và dân tộc, được
    nhân dân kính trọng và tri ân.

    th

    ao
    m

    tp

    22

    1/
    0

    1. Nguyễn Văn Thoại (1761 – 1829)

    Hình 1.1. Nhà thờ tiền hiền làng An Hải và Thoại Ngọc Hầu,
    phường An Hải Tây, quận Sơn Trà

    6

    th

    ao
    m

    tp

    22

    1/
    0

    2/
    20

    25

    13

    :5

    7:

    44

    -th

    ao

    m

    tp

    2-

    th
    a

    om
    tp

    2-

    th

    ao

    m

    tp
    2

    Nguyễn Văn Thoại quê xóm An Trung, làng An Hải, huyện Diên Phước, phủ
    Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, thành
    phố Đà Nẵng. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam,
    sống ở làng Thới Bình, trên Cù Lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh
    Long. Năm 16 tuổi, Nguyễn Văn Thoại đầu quân cho chúa Nguyễn, có nhiều
    công lớn, được phong tước Hầu, nên ông thường được gọi là Thoại Ngọc Hầu.
    Năm 1789, ông làm Phó quản doanh được thăng Khâm sai thượng đạo bình Tây
    tướng quân.
    Năm 1802, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy niên hiệu là Gia Long, Nguyễn
    Văn Thoại được phong Khâm sai Thống binh cai cơ, trông coi việc ở Bắc Thành,
    rồi lãnh chức Trấn thủ Lạng Sơn. Năm 1808, ông vào Nam nhận giữ chức Trấn
    thủ Định Tường, thời gian sau, được cử làm Thống quân biền binh bảo hộ Cao
    Miên, Trấn thủ biên giới Tây Nam. Năm 1817, Nguyễn Văn Thoại được bổ làm
    Trấn Thủ Vĩnh Thanh. Năm 1818, ông đã cho thiết kế và chỉ huy việc đào kênh
    Đông Xuyên (Long Xuyên) dài hơn 30 km. Kênh này sau khi hoàn thành đặt tên
    là kênh Thoại Hà. Từ năm 1819 – 1824, ông cho huy động 80 000 nhân công đào
    con kênh nối Châu Đốc với Hà Tiên dài gần 100 km, dẫn nước ra biển phía tây.
    Đây là một công trình lớn trong công cuộc khai phá vùng đất Hậu Giang. Nguyễn
    Văn Thoại còn có công lớn trong việc chiêu mộ dân đi khẩn hoang, lập làng ở
    vùng An Hải, Châu Đốc, biến vùng đất hoang vu nơi biên giới trở thành trù phú.
    Nguyễn Văn Thoại là một nhân vật tài kiêm văn võ, một nhà chính trị hoạt động
    ngoại giao xuất sắc, một doanh điền sứ, một nhà hoạt động kinh tế có tầm nhìn xa
    và năng lực tổ chức giỏi. Nguyễn Văn Thoại mất vào ngày 6 – 6 – 1829 (Kỉ Sửu)
    tại nhiệm sở Châu Đốc, được an táng bên chân núi Sam (Tế Sơn2). Sau khi
    Nguyễn Văn Thoại mất, vua Minh Mạng đã truy phong ông là Tráng Võ Tướng
    Quân, Trụ Quốc Đô Thống. Các vua Khải Định, Bảo Đại đều phong ông là Bảo
    Trung Hưng Tôn Thần. Nguyễn Văn Thoại được đặt tên đường ở quận Sơn Trà
    và quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, theo Nghị quyết 07-1998/NQ-HĐ
    ngày 2 – 7 – 1998 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn quận
    Cẩm Lệ có Trường Trung học phổ thông Nguyễn Văn Thoại.



    – Trình bày thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Văn Thoại.
    – Đánh giá vai trò lịch sử của Nguyễn Văn Thoại đối với quê hương, đất nước.

    Vua Minh Mạng lấy tên vợ Thoại Ngọc Hầu là Châu Thị Tế đặt tên cho núi Sam, gọi là Tế Sơn. Châu Thị
    Vĩnh Tế (Châu Thị Tế) được đặt tên đường ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, theo Nghị quyết số
    88/NQ-HĐND ngày 24 – 12 – 2009 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng.
    (2)

    7

    :5

    7:

    44

    -th

    ao

    m

    tp

    2-

    th
    a

    om
    tp

    2-

    th

    ao

    m

    tp
    2

    2. Đỗ Thúc Tịnh (1818 – 1862)
    Đỗ Thúc Tịnh tự là Cấn Trai, huý là Như Chương, người xã La Châu, tổng
    Phước Tường Thượng, huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Hoà
    Khương, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Đỗ Thúc Tịnh thuở nhỏ thông
    minh, ham học. Năm 1846, ông đỗ cử nhân khoa Bính Ngọ. Năm 1848, ông đỗ Đệ
    Tam giáp đồng tiến sĩ, đứng hàng thứ tư, là vị tiến sĩ đầu tiên của huyện Hoà Vang.
    Năm 1850, ông được sơ bổ chức Tri phủ Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Nhưng chỉ
    một thời gian ngắn, ông xin về quê phụng dưỡng mẹ già đang ốm nặng, rồi sau
    đó thọ tang mẹ 3 năm.

    25

    13

    Hình 1.2. Mộ Đỗ Thúc Tịnh tại thôn Hương Lam,
    xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang

    th

    ao
    m

    tp

    22

    1/
    0

    2/
    20

    Năm 1853, vua Tự Đức tái bổ ông làm Tri phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà.
    Tại đây, ông ra sức chiêu dân lập ấp, khai khẩn ruộng hoang, hết lòng chăm lo
    đời sống cho dân, được dân mến mộ tài đức, gọi ông là “Đỗ phụ”. Năm 1854,
    triều đình có chỉ gọi về làm Giám sát ngự sử, nhưng dân chúng phủ Diên Khánh
    quý trọng ông, làm đơn xin lưu lại, vua chuẩn y, cho ông hàm Thự Thị độc, giữ
    chức vụ cũ. Tháng Chạp năm Ất Mão (1856), có chiếu bổ Đỗ Thúc Tịnh làm
    Ngoại lang Binh bộ, cho lưu chức. Tiếp đó, Đỗ Thúc Tịnh được thăng chức Hồng
    lô tự khanh, rồi chuyển làm Án sát tỉnh Khánh Hoà, được thăng làm Bố chính, lại
    đổi về Biện lí Binh bộ. Năm 1861, quân Pháp đánh chiếm Định Tường, Biên Hoà;
    Đỗ Thúc Tịnh dâng sớ lên vua xin đi chống giặc. Vua chuẩn y, sau đó bổ nhiệm
    ông làm Tuần phủ Định Tường. Giữa lúc đang gánh vác trách nhiệm chống Pháp
    nặng nề, Đỗ Thúc Tịnh không may lâm trọng bệnh và mất tại Vĩnh Long vào ngày
    25 tháng Giêng năm Nhâm Tuất (1862).
    Sinh thời, Đỗ Thúc Tịnh là người sống có đạo nghĩa, coi trọng việc thiện, đặc
    biệt có tinh thần hiếu học, yêu nước thương dân. Ông để lại hậu thế hai công
    8

    th

    ao

    – Nhận xét về đóng góp của Đỗ Thúc Tịnh đối với quê hương đất nước.
    – Ý nghĩa việc Đỗ Thúc Tịnh cho xây dựng Văn chỉ La Châu.

    2-




    m

    tp
    2

    trình về coi trọng việc học của tiền nhân; đó là Văn chỉ La Châu (xã Hoà Khương,
    huyện Hoà Vang) và Văn chỉ Phước Điền (Văn miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh
    Hoà). Đỗ Thúc Tịnh được đặt tên đường ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng,
    theo Nghị quyết số 07-1998/NQ-HĐ ngày 2 – 7 – 1998 của Hội đồng Nhân dân
    thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang, có Trường
    Trung học cơ sở Đỗ Thúc Tịnh.

    om
    tp

    3. Phạm Phú Thứ (1821 – 1882)

    25

    13

    :5

    7:

    44

    -th

    ao

    m

    tp

    2-

    th
    a

    Phạm Phú Thứ tự là Giáo Chi, hiệu
    là Trúc Đường, biệt hiệu là Giá Viên;
    quê làng Đông Phú, huyện Diên Phước,
    tỉnh Quảng Nam, nay là xã Điện Trung,
    thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm
    1843, ông đỗ Tiến sĩ cập đệ, lúc đầu
    bổ làm Biên tu, rồi Tri phủ Lạng Giang
    (thuộc tỉnh Bắc Ninh), thăng Thị độc.
    Năm 1849, ông được đề bạt về Viện Tập
    hiền làm chức Khởi cư chú (thư kí ghi
    lời nói và hành động của vua), rồi ở toà
    Kinh diên (phòng giảng sách cho vua).

    2/
    20

    Hình 1.3. Phạm Phú Thứ (1821 - 1882)

    th

    ao
    m

    tp

    22

    1/
    0

    Năm 1850, thấy vua Tự Đức lơ là việc triều chính, Phạm Phú Thứ dâng sớ
    can, bị giáng chức làm Thừa nông dịch (chạy trạm về việc canh nông); một năm
    sau, vua triệu Phạm Phú Thứ về kinh. Năm 1852, ông được khôi phục hàm
    Biên tu; năm 1854, cử đi làm Tri phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi); năm 1855, được
    đề bạt làm Viên ngoại Bộ Lễ; năm 1856, được thăng làm Án sát Thanh Hoá, rồi
    Án sát Hà Nội. Năm 1860, được thăng làm Thị lang Bộ Lại, rồi Thự Tham tri.
    Tháng 4 – 1863, Phạm Phú Thứ được cử làm Khâm sai đại thần vào Gia Định
    đàm phán với nhà cầm quyền Pháp. Tiếp đó, làm phó sứ phái đoàn Phan Thanh
    Giản sang Pháp chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Trong chuyến đi Pháp, phái
    đoàn Phạm Phú Thứ còn đi thăm nhiều nước châu Âu như Tây Ban Nha, Anh,
    Bồ Đào Nha,… Về Huế, Phạm Phú Thứ dâng lên triều đình và vua Tự Đức bản
    tường trình chuyến đi trong đó có tập Tây hành nhật kí và Tây phù thi thảo ghi
    chép lại những phát minh khoa học kĩ thuật, nhận định về văn minh phương Tây,
    thuyết phục vua canh tân đất nước.
    9

    m

    tp

    2-

    th
    a

    om
    tp

    2-

    th

    ao

    m

    tp
    2

    Năm 1865, Phạm Phú Thứ được thăng Thự thượng thư bộ Hộ, sung Cơ mật
    viện đại thần. Năm 1874, ông được cử làm Thự tổng đốc Hải Yên (Hải Dương,
    Quảng Yên) kiêm Tổng lí thương chính đại thần. Tại đây, ông đã tích cực tổ
    chức khai hoang ở hai huyện Đông Triều và Nam Sách, đặt Nha Thương chính
    ở Ninh Hải, mở cảng ngoại thương ở Hải Phòng,… Năm 1876, Phạm Phú Thứ
    được thăng Tổng đốc; năm 1878, thăng Thự hiệp biện đại học sĩ. Năm 1880, ông
    lâm bệnh nặng, rồi mất vào năm 1882.
    Phạm Phú Thứ là một đại thần, một quan kĩ trị, nhà ngoại giao, doanh điền sứ,
    nhà khoa học, một người hoạch định chính sách giỏi, có tầm nhìn xa trông rộng,
    có tư tưởng canh tân đất nước. Ông đã để lại nhiều trước tác giá trị, ngoài Tây
    hành nhật kí, Giá Viên thi tập, Bản triều liệt thánh sự lược toản yếu, Lịch triều
    thống hệ niên phả toản yếu, ông còn viết các sách chuyên môn, kĩ thuật như: Bác
    vật tân biên (sách khảo về khoa học tự nhiên), Khai môi yếu pháp (phương pháp
    khai mỏ), Hàng hải kim châm (kĩ thuật đi biển),… Từ năm 1956 đến nay, Phạm
    Phú Thứ được đặt tên đường ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Trên địa
    bàn huyện Hoà Vang có Trường Trung học phổ thông Phạm Phú Thứ.

    7:

    44

    -th

    ao

    – Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Phạm Phú Thứ.
    – Những trước tác (tác phẩm, công trình) nào của Phạm Phú Thứ đặt nền móng
    cho các đề nghị cải cách, duy tân cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX ở nước ta?

    th

    ao
    m

    tp

    22

    1/
    0

    2/
    20

    25

    13

    :5

    4. Hoàng Diệu (1828 – 1882)
    Hoàng Diệu tự là Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, quê làng Xuân Đài, huyện
    Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh
    Quảng Nam. Ông vốn tên là Hoàng Kim Tích, sau đổi là Hoàng Diệu. Xuất thân
    trong một gia đình truyền thống Nho học, ông nổi tiếng về văn tài. Năm 1853,
    Hoàng Diệu đỗ phó bảng, bổ làm Hàn lâm kiểm thảo đi nhậm chức ở các huyện
    Bồng Sơn, Tuy Viễn, Tĩnh Gia, sau chuyển đi Tri phủ Lạng Giang, Đa Phúc(3).
    Hoàng Diệu làm việc tạo được tiếng vang tốt nên được bổ làm Án sát Nam Định
    rồi thăng lên Bố chính Bắc Ninh.

    Hình 1.4. Tượng đồng Hoàng Diệu tại nhà thờ
    do Viện Sử học Việt Nam đúc

    10

    (3)

    Hình 1.5. Mộ Hoàng Diệu ở làng Xuân Đài,
    thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

    Lạng Giang nay là huyện của tỉnh Bắc Giang; Đa Phúc nay thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

    th

    ao
    m

    tp

    22

    1/
    0

    2/
    20

    25

    13

    :5

    7:

    44

    -th

    ao

    m

    tp

    2-

    th
    a

    om
    tp

    2-

    th

    ao

    m

    tp
    2

    Đến năm 1877, ông về Huế làm Tham tri bộ Hình, rồi đổi sang bộ Lại kiêm
    quản Viện Đô sát. Trong việc thuyên chuyển, đề cử đều một lòng công bằng, mọi
    người khen ông là liêm chính. Năm 1880, Hoàng Diệu được bổ nhiệm Tổng đốc
    Hà Ninh, cai quản thành Hà Nội, tỉnh Hà Nam và tỉnh Ninh Bình, ông dâng sớ nói
    về việc sửa sang biên phòng, cách phòng bị đề phòng quân Pháp tiến đánh,
    được vua chuẩn y.
    Để mở rộng đánh chiếm Bắc Kỳ, thực dân Pháp lấy cớ triều đình Huế vi
    phạm Hiệp ước năm 1874 rồi đưa quân ra Bắc. Ngày 3 – 4 – 1882, quân Pháp
    đổ bộ bất ngờ vào Hà Nội. Tổng đốc Hoàng Diệu ra lệnh gấp cho các địa
    phương tâu lên triều đình xin thêm viện binh để kịp thời đối phó. Mờ sáng ngày
    25 – 4 – 1882, Henri Rivière gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu buộc quân đội triều
    đình phải hạ khí giới, giao thành, còn Hoàng Diệu cùng các quan văn võ trong
    thành Hà Nội phải đến nộp mình cho Pháp. Sau đó, quân Pháp đã nổ súng tấn
    công thành khi chưa đến thời hạn của tối hậu thư. Ngay từ đầu, Hoàng Diệu đã
    đốc thúc tướng sĩ chiến đấu dũng cảm. Khi trận chiến đang diễn ra ác liệt thì
    kho thuốc súng trong thành bị bốc cháy khiến tinh thần quân sĩ hoang mang.
    Chớp thời cơ, quân Pháp tràn vào thành. Sức cùng lực kiệt, Hoàng Diệu về
    hành cung bái vọng, thảo tờ di biểu để lại cho vua với lời thống thiết: "… Thành
    mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết
    có quản gì, nguyện xin theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn
    dặm, huyết lệ đôi hàng. Một tấm lòng son nguyện nhật nguyệt soi lòng thần
    vậy". Sau đó, Hoàng Diệu đến nhà Võ Miếu tuẫn tiết. Cảm về cái chết bi hùng
    của Hoàng Diệu, đại thần Tôn Thất Thuyết đã viết lời viếng cho Hoàng Diệu:
    Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện
    Bình sanh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm(4).
    Dịch nghĩa:
    Một chết đã thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trước
    Bình sinh trung nghĩa, đương trường đại cuộc tất lưu tâm.
    Từ sau năm 1954, Hoàng Diệu được đặt tên đường ở quận Hải Châu, thành
    phố Đà Nẵng; đến năm 1994, đoạn đường Hoàng Diệu nối dài được đặt tiếp tên
    Hoàng Diệu theo Nghị quyết ngày 10 – 7 – 1999 của Hội đồng Nhân dân thành
    phố Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Tam Thuận, quận Thanh Khê có Trường
    Trung học cơ sở Hoàng Diệu.


    (4)

    Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Hoàng Diệu.

    Dẫn theo Nguyễn Hoàng Viên, Hoàng Diệu, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 99).

    11

    5. Ông Ích Khiêm (1829 – 1884)

    th

    ao
    m

    tp

    22

    1/
    0

    2/
    20

    25

    13

    :5

    7:

    44

    -th

    ao

    m

    tp

    2-

    th
    a

    om
    tp

    2-

    th

    ao

    m

    tp
    2

    Ông Ích Khiêm tự là Mục Chi, sinh
    tại làng Phong Lệ, tổng Thanh Quýt,
    huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay
    thuộc phường Hoà Thọ Tây, quận Cẩm
    Lệ, thành phố Đà Nẵng. Ông xuất thân
    trong gia đình Nho giáo, thuở nhỏ chăm
    học, nổi tiếng là người thông minh. Năm
    1847, Ông Ích Khiêm đỗ cử nhân, được
    bổ làm việc ở nội các, rồi chuyển làm tri
    huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương). Là
    người tài kiêm văn võ, giỏi cầm quân,
    tham gia trận mạc ở nhiều nơi, từ năm
    Hình 1.6. Di chúc của Ông Ích Khiêm
    1862 – 1873, Ông Ích Khiêm luôn chỉ huy
    các trận đánh ở các địa bàn khó khăn, phức tạp nhất của vùng biên ải. Đó là
    những trận thắng lớn trước giặc biển ở Quảng Yên (1862); thu phục thành phủ
    Hải Ninh (1865); tiễu phỉ ở Lạng Sơn, Cao Bằng; phá tan 30 đồn giặc ở Thất Khê
    (1868); giải vây thành Bắc Ninh khỏi tay thổ phỉ (1869); phá tan giặc ở Lục Ngạn
    (1870); dẹp tan quân thổ phỉ ở Đông Triều (1871); phá sào huyệt thổ phỉ ở
    Quán Tư – Hưng Hoá (1872),… Chiến công ấy đều in đậm dấu ấn chỉ huy quyết
    đoán, mưu lược và tài cầm quân của Ông Ích Khiêm.
    Sau nhiều trận thắng vang dội, Ông Ích Khiêm từ chức Tiểu phủ sứ được
    thăng Thị độc sung tán tương quân vụ, rồi được cất lên chức Hồng lô tự khanh
    biện lý bộ Lễ. Từ năm 1873 – 1874, Ông Ích Khiêm tiếp tục được đảm nhận trọng
    trách tiễu phỉ ở các tỉnh phía Bắc. Sau bị bệnh nên cho về. Ông Ích Khiêm không
    chỉ là chiến tướng mà còn là người có đầu óc canh tân, có quyết sách ích nước
    lợi dân. Tại quê nhà Quảng Nam, Ông Ích Khiêm đã vận động dân đắp đập lấy
    nước tưới tiêu cho các cánh đồng ở Phú Hoà, Bàn Thạch, Đông Hoà, Bàn Câu
    (thuộc các huyện Hoà Vang, Điện Bàn, Duy Xuyên) khiến cho dân sinh ở các địa
    phương nơi đây thêm khởi sắc.
    Năm 1882, vua ban Ông Ích Khiêm làm lại Hồng lô tự khanh Biện lý bộ Hộ. Ở
    vị trí này, ông đã dâng sớ lên vua Tự Đức đưa ra kế sách khai mỏ, đúc tiền, lập
    trường diễn võ làm cho nước mạnh, dân giàu. Năm 1883, Ông Ích Khiêm được
    giao việc xây dựng phòng tuyến, trấn giữ cửa biển Thuận An. Trước sức tấn
    công của quân Pháp, cửa Thuận An đã không giữ được, Ông Ích Khiêm bị vua
    khiển trách, đổi sang chức Biện lý bộ Lễ.
    Vốn là người thẳng thắn, cương trực, năm 1883, Ông Ích Khiêm đã phê phán
    những hành động chuyên quyền của một số quan lại trụ cột trong triều đình.
    Đến năm 1884, nhân việc mang 50 lính về quê nhà tỉnh Quảng Nam, Ông Ích
    Khiêm bị phao tin là tự tiện bắt binh mã giao thông với phủ đệ, bị cách chức,
    phái đi an trí ở Bình Thuận rồi mất ở trong ngục. Đến đầu niên hiệu Hàm Nghi
    12

    tp
    2

    (1885), Ông Ích Khiêm được truy phục hàm Hàn lâm viện thị độc học sĩ. Người
    dân xứ Quảng vẫn luôn nhớ và quen gọi ông là “Quan Tiễu Phong Lệ”. Từ sau
    năm 1954 đến nay, Ông Ích Khiêm được đặt tên đường ở quận Hải Châu và
    quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Thanh Bình, quận
    Hải Châu có Trường Tiểu học Ông Ích Khiêm; trên địa bàn huyện Hoà Vang có
    Trường Trung học phổ thông Ông Ích Khiêm.

    th

    ao

    m

    – Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Ông Ích Khiêm.
    – Đánh giá vai trò lịch sử của Ông Ích Khiêm đối với quê hương, đất nước.

    om
    tp

    2-

    6. Huỳnh Bá Chánh (1842 – 1886)

    th

    ao
    m

    tp

    22

    1/
    0

    2/
    20

    25

    13

    :5

    7:

    44

    -th

    ao

    m

    tp

    2-

    th
    a

    Huỳnh Bá Chánh quê làng Khái Đông
    (Quảng Cái), huyện Diên Phước, phủ Điện
    Bàn, sau thuộc huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng
    Nam, nay thuộc phường Hoà Hải, quận Ngũ
    Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Ông vốn
    xuất thân trong gia đình nông dân, có chí
    học rộng. Năm 1873, ông đỗ cử nhân tại
    trường thi Huế; năm 1875 được bổ làm tri
    huyện Phù Cát, rồi Tuy Phước (1877), Phù
    Mỹ (1878), tri phủ An Nhơn (1881), Tư Nghĩa
    (1882). Năm 1883, Huỳnh Bá Chánh được
    triệu về kinh nhận chức Giám sát Ngự sử;
    Hình 1.7. Tượng Huỳnh Bá Chánh đặt tại khuôn viên
    Trường THCS Huỳnh Bá Chánh, phường Hòa Hải, năm 1884 thăng lên Ngoại lang Bộ Công,
    quận Ngũ Hành Sơn
    rồi Bộ Lại, sung chức Hành tẩu Cơ Mật viện.
    Sau sự kiện cuộc phản công quân Pháp của phái chủ chiến tại kinh thành Huế
    bị thất bại và Phong trào Cần vương bùng nổ (1885), Huỳnh Bá Chánh từ quan,
    trở về quê hương hưởng ứng Phong trào Nghĩa hội dưới trướng hội chủ Trần
    Văn Dư. Tại địa bàn Huỳnh Bá Chánh chỉ huy, đã giành nhiều trận thắng lớn,
    đánh tan các cuộc tấn công của quân Pháp và quân Nam triều. Cuối năm 1885,
    Trần Văn Dư bị giết, lực lượng Nghĩa hội ở các căn cứ Quế Sơn, Tiên Phước bị
    quân Pháp tấn công nên đã tập trung về căn cứ Tân Tỉnh ở Trung Lộc (Quế Sơn).
    Đến năm 1886, Huỳnh Bá Chánh cùng những người tổ chức bị Pháp bắt. Giặc
    Pháp khuyến dụ Huỳnh Bá Chánh đầu hàng, nhưng ông khẳng khái trả lời: Ninh
    vi kê thủ, bất vi ngưu hậu (Thà làm đầu gà, không làm đuôi trâu). Thấy không thể
    dụ hàng Huỳnh Bá Chánh, giặc Pháp đem ông ra hành hình nơi bến đò Chợ Củi
    (gần cầu Câu Lâu, thị xã Điện Bàn). Huỳnh Bá Chánh được đặt tên đường ở quận
    Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, theo Nghị quyết ngày 12 – 7 – 2002 của Hội
    đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Hoà Hải, quận Ngũ
    Hành Sơn, có Trường Trung học cơ sở Huỳnh Bá Chánh.
    13



    Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Huỳnh Bá Chánh.

    7. Trần Cao Vân (1866 – 1916)

    th

    ao
    m

    tp

    22

    1/
    0

    2/
    20

    25

    13

    :5

    7:

    44

    -th

    ao

    m

    tp

    2-

    th
    a

    om
    tp

    2-

    th

    ao

    m

    tp
    2

    Trần Cao Vân còn có tên là Trần Cao
    Đệ, pháp danh Như Y, hiệu Hồng Việt,
    Chánh Minh, Bạch Sĩ. Ông quê ở làng
    Tư Phú, tổng Đa Hoà, phủ Điện Bàn, tỉnh
    Quảng Nam, nay là xã Điện Thọ, thị xã
    Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ
    thông minh, hiếu học, năm 1882, ông đi thi
    thì mắc bệnh, không thể dự thi được. Từ
    đó, vận nước với bao biến cố khiến ông
    bỏ hẳn đường khoa cử, dấn thân vào con
    đường cứu nước. Năm 1886, Trần Cao
    Vân vào sống ở chùa Cổ Lâm (Đại Lộc),
    Hình 1.8. Trần Cao Vân (1866 - 1916)
    mở trường dạy học để chiêu tập lực lượng yêu nước. Năm 1892, ông vào hoạt
    động ở các địa phương Bình Định, Phú Yên. Tại đây, ông kết giao với Võ Trứ và
    những người cùng chí hướng.
    Năm 1898, cuộc khởi nghĩa Võ Trứ thất bại, Trần Cao Vân với vị trí cố vấn đã
    bị bắt giam ở nhà ngục Phú Yên. Nhờ Võ Trứ khẳng khái nhận tội, Trần Cao Vân
    được tha. Năm 1900, Trần Cao Vân lại bị bắt giam tại nhà lao Bình Định vì vụ án
    “Trung thiên dịch”, bị kết tội “Yêu thơ yêu ngôn” xúi nhân dân gây phiến loạn. Ông
    bị đưa về giam ở Quảng Nam, đến năm 1907, mới được trả tự do. Năm 1908,
    Phong trào Duy tân phát triển mạnh, đỉnh điểm là phong trào kháng thuế cự sưu,
    Trần Cao Vân lại bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo, đến năm 1914 mới ra tù.
    Năm 1915, Trần Cao Vân bắt liên lạc và phối hợp hoạt động cùng các nhà yêu
    nước ở Trung Kỳ. Năm 1916, ông cùng với Thái Phiên và vua Duy Tân hoạch
    định kế hoạch khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Cuộc khởi nghĩa tháng 5 – 1916
    bị thất bại, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị kết án
    tử hình. Ngày 17 – 5 – 1916, chính quyền thực dân và Nam triều đã xử chém ông
    cùng những người đồng chí tại pháp trường An Hoà, sát kinh thành Huế. Từ năm
    1962 đến nay, Trần Cao Vân được đặt tên đường ở quận Thanh Khê, thành phố
    Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Tân Chính, quận Thanh Khê có Trường Tiểu học
    Trần Cao Vân.

    14

    Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Trần Cao Vân.

    8. Trần Quý Cáp (1870 – 1908)

    th

    ao
    m

    tp

    22

    1/
    0

    2/
    20

    25

    13

    :5

    7:

    44

    -th

    ao

    m

    tp

    2-

    th
    a

    om
    tp

    2-

    th

    ao

    m

    tp
    2

    Trần Quý Cáp tên thật là Trần Nghị, tự là
    Dã Hàng, Thích Phu, hiệu Thai Xuyên, quê
    thôn Thai La, làng Bất Nhị, nay thuộc xã Điện
    Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Vốn
    người thông minh, có chí trong việc học nhưng
    thi Hương nhiều lần chỉ được chấm hạng tú tài.
    Sau khi trúng tuyển xuất sắc Kì thi khảo hạch
    ở Quảng Nam, năm 1904, ông đỗ kì thi Hội và
    Hình 1.9. Con tem Bưu chính Việt Nam
    tiếp đó đỗ kì thi Đình. Ông nổi tiếng là một trong
    phát hành nhân Kỉ niệm 100 năm
    ngày mất Trần Quý Cáp (1908-2008)
    những người học giỏi của xứ Quảng lúc bấy giờ.
    Thời gian học ở Huế, Trần Quý Cáp quen thân với Phan Bội Châu cùng nhiều
    nhân sĩ. Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng trở thành bộ ba duy
    tân nổi tiếng đương thời. Ông kết hợp với trí thức cấp tiến ở Quảng Nam và các
    địa phương ở Trung Kỳ vận động cuộc cải cách toàn diện trên nhiều lĩnh vực:
    chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục,…
    Tháng 3 – 1905, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng lên
    đường thực hiện chuyến “Nam du” qua các tỉnh miền Trung để tìm hiểu tình hình
    thực tế tại các địa phương. Đến Bình Định, nhân Kì khảo hạch, các ông lấy tên
    chung là Đào Mộng Giác, làm thơ, phú cùng ứng hạch. Bài thơ Chí thành thông
    thánh do Phan Châu Trinh chấp bút, bài phú Lương ngọc danh sơn do Huỳnh
    Thúc Kháng và Trần Quý Cáp chấp bút đã lên tiếng phê phán lối học từ chương,
    khoa cử, vạch trần sự bất lực của triều đình phong kiến, lên án chế độ Pháp
    thuộc, thức tỉnh lòng yêu nước của sĩ phu. Năm 1906, Trần Quý Cáp nhận chức
    giáo thọ phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Tại đây, ông chủ trương dạy học trò
    chữ Tây và chữ Quốc ngữ, gây ảnh hưởng rộng đến các trường trong tỉnh như
    Diên Phong, Phú Lâm, Phước Bình,…
    Thực dân Pháp và chính quyền Nam Triều phát hiện ra nguy cơ từ các hoạt
    động của ông, liền chuyển ông vào làm giáo thọ ở Ninh Hoà (Khánh Hoà) để xa
    trung tâm Phong trào Duy tân. Đầu năm 1908, Trần Quý Cáp vào Ninh Hoà thì tại
    huyện Đại Lộc (Quảng Nam) khởi lên cuộc biểu tình chống thuế cự sưu. Hoảng
    sợ trước phong trào kháng thuế ngày càng lan rộng, quan đầu tỉnh Khánh Hoà
    là Án sát Nguyễn Văn Mại và Bố chánh Phạm Ngọc Quát, theo mật lệnh của
    Khâm sứ Trung Kỳ là Lévecque, đã cấu kết với tên công sứ Pháp tại đây bắt giam
    Trần Quý Cáp, buộc ông tội “đại phản nghịch”, kết án “mạc tu hữu” (không cần
    chứng cứ) rồi đưa ra chém ở bãi Sông Cạn (Ninh Hoà) vào ngày 15 – 6 – 1908.
    Trần Quý Cáp mất đi nhưng công cuộc Duy tân vẫn âm thầm tiếp diễn và làm
    thay đổi sâu sắc nhận thức chính trị của đa số người dân Việt Nam lúc đó. Từ sau
    15

    năm 1954 đến nay, Trần Quý Cáp được đặt tên đường ở quận Hải Châu, thành phố
    Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ có Trường Trung học
    cơ sở Trần Quý Cáp.

    Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Trần Quý Cáp.

    tp
    2



    m

    9. Phan Châu Trinh (1872 – 1926)

    13

    :5

    7:

    44

    -th

    ao

    m

    tp

    2-

    th
    a

    om
    tp

    2-

    th

    ao

    Phan Châu Trinh tự Hy Mã, hiệu Tây
    Hồ, quê làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước,
    phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, nay là thôn
    Tây Hồ, xã Tam Lộc, thị xã Tam Kỳ, tỉnh
    Quảng Nam. Năm 1900, Phan Châu Trinh
    đỗ cử nhân; năm 1901, đỗ phó bảng,
    được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ. Chịu ảnh
    hưởng của tư tưởng cách mạng dân
    chủ tư sản, Phan Châu Trinh từ bỏ quan
    trường, liên lạc với Huỳnh Thúc Kháng,
    Trần Quý Cáp, đề xướng Phong trào Duy
    tân, lập trường dạy học theo lối mới, lập
    các hội công, nông, thương, vận động cải
    cách trang phục và lối sống,…

    Hình 1.10. Phan Châu Trinh (1872 - 1926)

    th

    ao
    m

    tp

    22

    1/
    0

    2/
    20

    25

    Năm 1905 – 1906, Phan Châu Trinh sang Trung Quốc, Nhật Bản gặp Phan Bội
    Châu để bàn việc phối hợp hoạt động trong phong trào yêu nước. Khi về nước,
    Phan Châu Trinh viết thư gửi Toàn quyền Đông Dương, nêu lên thảm cảnh nhân
    dân Việt Nam phải gánh chịu dưới chính sách hà khắc của chính quyền Nam
    triều và thực dân Pháp. Năm 1907, Phan Châu Trinh diễn thuyết tại trường Đông
    Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, hô hào duy tân cải cách. Năm 1908, Phong trào Duy
    tân phát triển mạnh, đỉnh điểm là phong trào kháng thuế lan ra khắp Trung Kỳ.
    Phan Châu Trinh bị Pháp bắt và đày đi Côn Đảo. Nhờ Hội Nhân quyền Pháp can
    thiệp với chính phủ Pháp, đến cuối năm 1911, chính phủ Pháp buộc phải trả tự
    do cho Phan Châu Trinh.
    Năm 1911, Phan Châu Trinh sang Pháp. Tại đây, ông tiếp tục đấu tranh yêu
    cầu chính quyền Pháp ở Đông Dương phải thực hiện cải cách chính trị, tôn trọng
    dân quyền. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông bị Pháp bắt giam vào ngục
    Santé 15 tháng. Những năm 1917 – 1923, Phan Châu Trinh có mối quan hệ mật
    thiết với Nguyễn Ái Quốc và những nhà yêu nước đang sống tại Pháp, ông phối
    16

    ao

    m

    tp

    2-

    th
    a

    om
    tp

    2-

    th

    ao

    m

    tp
    2

    hợp tích cực với mọi người trong hoạt động yêu nước tại đây. Năm 1922, Phan
    Châu Trinh viết “Thất điều trần” tố cáo trước dư luận các tội lớn của vua Khải
    Định. Năm 1925,...
     
    Gửi ý kiến

    Sách là sợi dây liên kết giữa các thế hệ và giữa các nền văn minh.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT PHẠM PHÚ THỨ - HÒA VANG - ĐÀ NẴNG !