Mái trường mến yêu - Bài hát Truyền thống Trường THPT Phạm Phú Thứ - TP Đà Nẵng
Tài liệu Giáo dục địa phương thành phố Đà Nẵng lớp 12

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Thư viện Trường THPT Phạm Phú Thứ
Ngày gửi: 21h:00' 28-02-2025
Dung lượng: 10.4 MB
Số lượt tải: 4
Người gửi: Thư viện Trường THPT Phạm Phú Thứ
Ngày gửi: 21h:00' 28-02-2025
Dung lượng: 10.4 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Ký bởi: SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Cơ quan: ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngày ký: 2025-02-19 08:36:33 +07:00
UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ao
m
tp
2
NGUYỄN MINH HÙNG – MAI TẤN LINH (ĐỒNG CHỦ BIÊN)
HỒ QUỐC CHÍNH – PHẠM ĐÌNH ĐƯỢC– VÕ VĂN MINH – LÊ VĂN PHAN
HÀ THÚC QUANG – LƯU ANH RÔ – HUỲNH ĐÌNH QUỐC THIỆN
BÙI VĂN TIẾNG – PHẠM THỊ TRINH – HÀ VỸ
om
tp
2-
th
TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Lớ p
12
MỤC LỤC
Nội dung
Chủ đề
Trang
Danh nhân lịch sử tiêu biểu của Đất Quảng
5
2
Sơ lược về văn học viết Đất Quảng
từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay
34
3
Văn nghệ sĩ tiêu biểu của Đất Quảng
4
Đô thị hoá ở Đà Nẵng
5
Lao động, việc làm và định hướng nghề nghiệp
tp
2
1
2-
th
ao
m
42
60
om
tp
70
Nguồn
Hà Thúc Quang
H1.15
22
H1.16
23
H1.17
24
H1.18
25
Wikipedia
10
Báo Quảng Nam
Cổng thông tin điện tử thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Báo Quảng Nam
Báo Đà Nẵng
Website Hội Liên hiệp Phụ nữ
thành phố Đà Nẵng
Nguyễn Bá Khoản, Wikipedia
H1.2
8
Báo Đà Nẵng
H1.3
9
H1.4
10
H1.5
H1.19
26
H1.6
12
Bảo tàng Đà Nẵng
H1.20
27
H1.7
13
H1.21
28
H1.8
14
H1.22
29
Internet
Cổng thông tin điện tử Đảng
bộ Thành phố Hồ Chí Minh
Đài Phát thanh và Truyền
hình thành phố Đà Nẵng
Báo Quân đội Nhân dân
H1.9
H1.23
30
Internet
H1.10
16
Bảo tàng Lịch sử quốc gia
H1.11
17
Cổng thông tin điện tử thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
H1.12
18
Báo điện tử Đà Nẵng
H1.13
19
H1.14
20
m
6
Hình
ao
H1.1
44
7:
:5
13
25
2/
20
1/
0
Website Trường THCS
Huỳnh Bá Chánh
Bảo tàng Lịch sử quốc gia
Họa sĩ Đỗ Lệnh Tuấn, Bưu
chính Việt Nam
22
ao
m
th
Nguồn
-th
Trang
tp
Trang
tp
Hình
2-
th
a
DANH SÁCH HÌNH ẢNH SỬ DỤNG TRONG TÀI LIỆU
15
Quảng Nam đất nước và
nhân vật
Nhóm nhiếp ảnh học sinh
Trường THPT Thái Phiên
H2.1 H2.9
H3.1 H3.16
H4.1 H4.7
H5.1 H5.5
Ảnh
bìa
33-38 Ban biên soạn
40-56 Ban biên soạn
59-68 Ban biên soạn
71-75 Ban biên soạn
Bìa
Nguyễn Tấn Phát
th
ao
m
tp
2
LỜI NÓI ĐẦU
om
tp
2-
Các em học sinh thân mến!
2-
th
a
Các em đang sinh sống và học tập tại thành phố Đà Nẵng –
một trong những trung tâm chính trị – kinh tế – văn hoá của khu vực
miền Trung và Tây Nguyên.
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
Tài liệu Giáo dục địa phương thành phố Đà Nẵng lớp 12 được
biên soạn nhằm cung cấp cho các em những hiểu biết cơ bản về lịch
sử, địa lí, văn hoá, môi trường,... của thành phố Đà Nẵng. Tài liệu
gồm 5 chủ đề, mỗi chủ đề được xây dựng theo cấu trúc thống nhất
và đảm bảo tính lô-gic giữa các hoạt động Mở đầu – Kiến thức mới –
Luyện tập – Vận dụng. Với cấu trúc này, các em sẽ thực hiện các hoạt
động dưới sự hướng dẫn của giáo viên để hoàn thành tốt nhiệm vụ
học tập. Từ đó, các em có thêm cơ hội hiểu biết đúng về những giá
trị đặc trưng của vùng đất này, có niềm tự hào và ý thức trách nhiệm
trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị đó.
NHÓM TÁC GIẢ
th
ao
m
tp
22
Hi vọng tài liệu này sẽ mang lại cho các em những kiến thức
bổ ích và những trải nghiệm thú vị.
3
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Kí hiệu và hướng dẫn sử dụng tài liệu
Giới thiệu một số nội dung liên quan đến
chủ đề, định hướng việc tổ chức các hoạt
động học tập.
Giải thích, cung cấp thông tin liên quan
đến nội dung chủ đề.
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
KIẾN THỨC MỚI
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
MỞ ĐẦU
Từ kiến thức, học sinh được rèn luyện
phát triển các kĩ năng phù hợp với nội dung
chủ đề.
th
ao
m
tp
22
LUYỆN TẬP
VẬN DỤNG
4
Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào
thực tiễn phù hợp với nội dung chủ đề.
DANH NHÂN LỊCH SỬ TIÊU BIỂU
CỦA ĐẤT QUẢNG
tp
2
Mục tiêu:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
– Giải thích được khái niệm danh nhân lịch sử và nêu những nét chính về
vai trò của danh nhân lịch sử.
– Biết sưu tầm và sử dụng tư liệu lịch sử để tìm hiểu thân thế, sự nghiệp
danh nhân lịch sử tiêu biểu của Đất Quảng.
– Đánh giá được vai trò danh nhân lịch sử tiêu biểu của Đất Quảng đối với
quê hương đất nước.
– Giáo dục học sinh có lòng kính trọng, tri ân và học tập gương sáng danh
nhân lịch sử của Đất Quảng.
13
:5
7:
MỞ ĐẦU
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
Theo sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn(1), ở
mục tỉnh Quảng Nam, phần phong tục, có đoạn chép về đất và người xứ Quảng
như sau: "Đàn ông thì lo việc cày ruộng trồng dâu, đàn bà chuyên nghề nuôi tằm
dệt cửi. Núi sông thanh tú cho nên nhiều người có tư chất thông minh dễ học. Sĩ
phu có khí tiết cứng cỏi dám nói, nhưng vì thổ lực không hậu và thế nước chảy
gấp, nên tính người hay nóng nảy ít trầm tĩnh, duy có người học vấn uyên thâm
mới không bị phong khí ràng buộc…".
(1)
Đoạn trích trên nhận xét những gì về đất và người xứ Quảng?
Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 1, NXB Lao động, 2012, tr. 334).
5
KIẾN THỨC MỚI
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
I. Khái niệm và vai trò của danh nhân lịch sử
Danh nhân lịch sử là những người nổi tiếng, có những cống hiến nổi bật, có
tầm ảnh hưởng lớn đến cộng đồng, được xã hội ghi nhận, lưu danh trong lịch sử
dân tộc. Tuỳ theo lĩnh vực hoạt động và thành tựu, danh nhân lịch sử có thể là
những nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hoá, nhà khoa học,… Trong tiến trình
phát triển của lịch sử dân tộc, danh nhân lịch sử là người giữ vai trò quan trọng.
Họ là người khởi xướng, tập hợp lực lượng, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa chống
ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập, tự do cho dân tộc. Họ đi đầu trong công cuộc cải
cách, đổi mới; góp công lớn làm thay đổi diện mạo quê hương đất nước trên các
lĩnh vực chính trị – tư tưởng, kinh tế – xã hội, khoa học – kĩ thuật, văn hoá – nghệ
thuật,…
44
-th
ao
Trình bày khái niệm danh nhân lịch sử. Kể tên một số danh nhân lịch sử
Đất Quảng.
7:
II. Danh nhân lịch sử tiêu biểu của Đất Quảng
2/
20
25
13
:5
Danh nhân lịch sử của Đất Quảng gắn liền từ buổi đầu mở cõi về phương Nam
cho đến ngày nay. Đó là những con người tài năng, đức độ và nổi tiếng trên nhiều
lĩnh vực trong lịch sử. Họ có công lao lớn đối với quê hương và dân tộc, được
nhân dân kính trọng và tri ân.
th
ao
m
tp
22
1/
0
1. Nguyễn Văn Thoại (1761 – 1829)
Hình 1.1. Nhà thờ tiền hiền làng An Hải và Thoại Ngọc Hầu,
phường An Hải Tây, quận Sơn Trà
6
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Nguyễn Văn Thoại quê xóm An Trung, làng An Hải, huyện Diên Phước, phủ
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, thành
phố Đà Nẵng. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam,
sống ở làng Thới Bình, trên Cù Lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh
Long. Năm 16 tuổi, Nguyễn Văn Thoại đầu quân cho chúa Nguyễn, có nhiều
công lớn, được phong tước Hầu, nên ông thường được gọi là Thoại Ngọc Hầu.
Năm 1789, ông làm Phó quản doanh được thăng Khâm sai thượng đạo bình Tây
tướng quân.
Năm 1802, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy niên hiệu là Gia Long, Nguyễn
Văn Thoại được phong Khâm sai Thống binh cai cơ, trông coi việc ở Bắc Thành,
rồi lãnh chức Trấn thủ Lạng Sơn. Năm 1808, ông vào Nam nhận giữ chức Trấn
thủ Định Tường, thời gian sau, được cử làm Thống quân biền binh bảo hộ Cao
Miên, Trấn thủ biên giới Tây Nam. Năm 1817, Nguyễn Văn Thoại được bổ làm
Trấn Thủ Vĩnh Thanh. Năm 1818, ông đã cho thiết kế và chỉ huy việc đào kênh
Đông Xuyên (Long Xuyên) dài hơn 30 km. Kênh này sau khi hoàn thành đặt tên
là kênh Thoại Hà. Từ năm 1819 – 1824, ông cho huy động 80 000 nhân công đào
con kênh nối Châu Đốc với Hà Tiên dài gần 100 km, dẫn nước ra biển phía tây.
Đây là một công trình lớn trong công cuộc khai phá vùng đất Hậu Giang. Nguyễn
Văn Thoại còn có công lớn trong việc chiêu mộ dân đi khẩn hoang, lập làng ở
vùng An Hải, Châu Đốc, biến vùng đất hoang vu nơi biên giới trở thành trù phú.
Nguyễn Văn Thoại là một nhân vật tài kiêm văn võ, một nhà chính trị hoạt động
ngoại giao xuất sắc, một doanh điền sứ, một nhà hoạt động kinh tế có tầm nhìn xa
và năng lực tổ chức giỏi. Nguyễn Văn Thoại mất vào ngày 6 – 6 – 1829 (Kỉ Sửu)
tại nhiệm sở Châu Đốc, được an táng bên chân núi Sam (Tế Sơn2). Sau khi
Nguyễn Văn Thoại mất, vua Minh Mạng đã truy phong ông là Tráng Võ Tướng
Quân, Trụ Quốc Đô Thống. Các vua Khải Định, Bảo Đại đều phong ông là Bảo
Trung Hưng Tôn Thần. Nguyễn Văn Thoại được đặt tên đường ở quận Sơn Trà
và quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, theo Nghị quyết 07-1998/NQ-HĐ
ngày 2 – 7 – 1998 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn quận
Cẩm Lệ có Trường Trung học phổ thông Nguyễn Văn Thoại.
– Trình bày thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Văn Thoại.
– Đánh giá vai trò lịch sử của Nguyễn Văn Thoại đối với quê hương, đất nước.
Vua Minh Mạng lấy tên vợ Thoại Ngọc Hầu là Châu Thị Tế đặt tên cho núi Sam, gọi là Tế Sơn. Châu Thị
Vĩnh Tế (Châu Thị Tế) được đặt tên đường ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, theo Nghị quyết số
88/NQ-HĐND ngày 24 – 12 – 2009 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng.
(2)
7
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
2. Đỗ Thúc Tịnh (1818 – 1862)
Đỗ Thúc Tịnh tự là Cấn Trai, huý là Như Chương, người xã La Châu, tổng
Phước Tường Thượng, huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Hoà
Khương, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Đỗ Thúc Tịnh thuở nhỏ thông
minh, ham học. Năm 1846, ông đỗ cử nhân khoa Bính Ngọ. Năm 1848, ông đỗ Đệ
Tam giáp đồng tiến sĩ, đứng hàng thứ tư, là vị tiến sĩ đầu tiên của huyện Hoà Vang.
Năm 1850, ông được sơ bổ chức Tri phủ Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Nhưng chỉ
một thời gian ngắn, ông xin về quê phụng dưỡng mẹ già đang ốm nặng, rồi sau
đó thọ tang mẹ 3 năm.
25
13
Hình 1.2. Mộ Đỗ Thúc Tịnh tại thôn Hương Lam,
xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
Năm 1853, vua Tự Đức tái bổ ông làm Tri phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà.
Tại đây, ông ra sức chiêu dân lập ấp, khai khẩn ruộng hoang, hết lòng chăm lo
đời sống cho dân, được dân mến mộ tài đức, gọi ông là “Đỗ phụ”. Năm 1854,
triều đình có chỉ gọi về làm Giám sát ngự sử, nhưng dân chúng phủ Diên Khánh
quý trọng ông, làm đơn xin lưu lại, vua chuẩn y, cho ông hàm Thự Thị độc, giữ
chức vụ cũ. Tháng Chạp năm Ất Mão (1856), có chiếu bổ Đỗ Thúc Tịnh làm
Ngoại lang Binh bộ, cho lưu chức. Tiếp đó, Đỗ Thúc Tịnh được thăng chức Hồng
lô tự khanh, rồi chuyển làm Án sát tỉnh Khánh Hoà, được thăng làm Bố chính, lại
đổi về Biện lí Binh bộ. Năm 1861, quân Pháp đánh chiếm Định Tường, Biên Hoà;
Đỗ Thúc Tịnh dâng sớ lên vua xin đi chống giặc. Vua chuẩn y, sau đó bổ nhiệm
ông làm Tuần phủ Định Tường. Giữa lúc đang gánh vác trách nhiệm chống Pháp
nặng nề, Đỗ Thúc Tịnh không may lâm trọng bệnh và mất tại Vĩnh Long vào ngày
25 tháng Giêng năm Nhâm Tuất (1862).
Sinh thời, Đỗ Thúc Tịnh là người sống có đạo nghĩa, coi trọng việc thiện, đặc
biệt có tinh thần hiếu học, yêu nước thương dân. Ông để lại hậu thế hai công
8
th
ao
– Nhận xét về đóng góp của Đỗ Thúc Tịnh đối với quê hương đất nước.
– Ý nghĩa việc Đỗ Thúc Tịnh cho xây dựng Văn chỉ La Châu.
2-
m
tp
2
trình về coi trọng việc học của tiền nhân; đó là Văn chỉ La Châu (xã Hoà Khương,
huyện Hoà Vang) và Văn chỉ Phước Điền (Văn miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh
Hoà). Đỗ Thúc Tịnh được đặt tên đường ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng,
theo Nghị quyết số 07-1998/NQ-HĐ ngày 2 – 7 – 1998 của Hội đồng Nhân dân
thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang, có Trường
Trung học cơ sở Đỗ Thúc Tịnh.
om
tp
3. Phạm Phú Thứ (1821 – 1882)
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
Phạm Phú Thứ tự là Giáo Chi, hiệu
là Trúc Đường, biệt hiệu là Giá Viên;
quê làng Đông Phú, huyện Diên Phước,
tỉnh Quảng Nam, nay là xã Điện Trung,
thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm
1843, ông đỗ Tiến sĩ cập đệ, lúc đầu
bổ làm Biên tu, rồi Tri phủ Lạng Giang
(thuộc tỉnh Bắc Ninh), thăng Thị độc.
Năm 1849, ông được đề bạt về Viện Tập
hiền làm chức Khởi cư chú (thư kí ghi
lời nói và hành động của vua), rồi ở toà
Kinh diên (phòng giảng sách cho vua).
2/
20
Hình 1.3. Phạm Phú Thứ (1821 - 1882)
th
ao
m
tp
22
1/
0
Năm 1850, thấy vua Tự Đức lơ là việc triều chính, Phạm Phú Thứ dâng sớ
can, bị giáng chức làm Thừa nông dịch (chạy trạm về việc canh nông); một năm
sau, vua triệu Phạm Phú Thứ về kinh. Năm 1852, ông được khôi phục hàm
Biên tu; năm 1854, cử đi làm Tri phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi); năm 1855, được
đề bạt làm Viên ngoại Bộ Lễ; năm 1856, được thăng làm Án sát Thanh Hoá, rồi
Án sát Hà Nội. Năm 1860, được thăng làm Thị lang Bộ Lại, rồi Thự Tham tri.
Tháng 4 – 1863, Phạm Phú Thứ được cử làm Khâm sai đại thần vào Gia Định
đàm phán với nhà cầm quyền Pháp. Tiếp đó, làm phó sứ phái đoàn Phan Thanh
Giản sang Pháp chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Trong chuyến đi Pháp, phái
đoàn Phạm Phú Thứ còn đi thăm nhiều nước châu Âu như Tây Ban Nha, Anh,
Bồ Đào Nha,… Về Huế, Phạm Phú Thứ dâng lên triều đình và vua Tự Đức bản
tường trình chuyến đi trong đó có tập Tây hành nhật kí và Tây phù thi thảo ghi
chép lại những phát minh khoa học kĩ thuật, nhận định về văn minh phương Tây,
thuyết phục vua canh tân đất nước.
9
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Năm 1865, Phạm Phú Thứ được thăng Thự thượng thư bộ Hộ, sung Cơ mật
viện đại thần. Năm 1874, ông được cử làm Thự tổng đốc Hải Yên (Hải Dương,
Quảng Yên) kiêm Tổng lí thương chính đại thần. Tại đây, ông đã tích cực tổ
chức khai hoang ở hai huyện Đông Triều và Nam Sách, đặt Nha Thương chính
ở Ninh Hải, mở cảng ngoại thương ở Hải Phòng,… Năm 1876, Phạm Phú Thứ
được thăng Tổng đốc; năm 1878, thăng Thự hiệp biện đại học sĩ. Năm 1880, ông
lâm bệnh nặng, rồi mất vào năm 1882.
Phạm Phú Thứ là một đại thần, một quan kĩ trị, nhà ngoại giao, doanh điền sứ,
nhà khoa học, một người hoạch định chính sách giỏi, có tầm nhìn xa trông rộng,
có tư tưởng canh tân đất nước. Ông đã để lại nhiều trước tác giá trị, ngoài Tây
hành nhật kí, Giá Viên thi tập, Bản triều liệt thánh sự lược toản yếu, Lịch triều
thống hệ niên phả toản yếu, ông còn viết các sách chuyên môn, kĩ thuật như: Bác
vật tân biên (sách khảo về khoa học tự nhiên), Khai môi yếu pháp (phương pháp
khai mỏ), Hàng hải kim châm (kĩ thuật đi biển),… Từ năm 1956 đến nay, Phạm
Phú Thứ được đặt tên đường ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Trên địa
bàn huyện Hoà Vang có Trường Trung học phổ thông Phạm Phú Thứ.
7:
44
-th
ao
– Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Phạm Phú Thứ.
– Những trước tác (tác phẩm, công trình) nào của Phạm Phú Thứ đặt nền móng
cho các đề nghị cải cách, duy tân cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX ở nước ta?
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
4. Hoàng Diệu (1828 – 1882)
Hoàng Diệu tự là Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, quê làng Xuân Đài, huyện
Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam. Ông vốn tên là Hoàng Kim Tích, sau đổi là Hoàng Diệu. Xuất thân
trong một gia đình truyền thống Nho học, ông nổi tiếng về văn tài. Năm 1853,
Hoàng Diệu đỗ phó bảng, bổ làm Hàn lâm kiểm thảo đi nhậm chức ở các huyện
Bồng Sơn, Tuy Viễn, Tĩnh Gia, sau chuyển đi Tri phủ Lạng Giang, Đa Phúc(3).
Hoàng Diệu làm việc tạo được tiếng vang tốt nên được bổ làm Án sát Nam Định
rồi thăng lên Bố chính Bắc Ninh.
Hình 1.4. Tượng đồng Hoàng Diệu tại nhà thờ
do Viện Sử học Việt Nam đúc
10
(3)
Hình 1.5. Mộ Hoàng Diệu ở làng Xuân Đài,
thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Lạng Giang nay là huyện của tỉnh Bắc Giang; Đa Phúc nay thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Đến năm 1877, ông về Huế làm Tham tri bộ Hình, rồi đổi sang bộ Lại kiêm
quản Viện Đô sát. Trong việc thuyên chuyển, đề cử đều một lòng công bằng, mọi
người khen ông là liêm chính. Năm 1880, Hoàng Diệu được bổ nhiệm Tổng đốc
Hà Ninh, cai quản thành Hà Nội, tỉnh Hà Nam và tỉnh Ninh Bình, ông dâng sớ nói
về việc sửa sang biên phòng, cách phòng bị đề phòng quân Pháp tiến đánh,
được vua chuẩn y.
Để mở rộng đánh chiếm Bắc Kỳ, thực dân Pháp lấy cớ triều đình Huế vi
phạm Hiệp ước năm 1874 rồi đưa quân ra Bắc. Ngày 3 – 4 – 1882, quân Pháp
đổ bộ bất ngờ vào Hà Nội. Tổng đốc Hoàng Diệu ra lệnh gấp cho các địa
phương tâu lên triều đình xin thêm viện binh để kịp thời đối phó. Mờ sáng ngày
25 – 4 – 1882, Henri Rivière gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu buộc quân đội triều
đình phải hạ khí giới, giao thành, còn Hoàng Diệu cùng các quan văn võ trong
thành Hà Nội phải đến nộp mình cho Pháp. Sau đó, quân Pháp đã nổ súng tấn
công thành khi chưa đến thời hạn của tối hậu thư. Ngay từ đầu, Hoàng Diệu đã
đốc thúc tướng sĩ chiến đấu dũng cảm. Khi trận chiến đang diễn ra ác liệt thì
kho thuốc súng trong thành bị bốc cháy khiến tinh thần quân sĩ hoang mang.
Chớp thời cơ, quân Pháp tràn vào thành. Sức cùng lực kiệt, Hoàng Diệu về
hành cung bái vọng, thảo tờ di biểu để lại cho vua với lời thống thiết: "… Thành
mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết
có quản gì, nguyện xin theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn
dặm, huyết lệ đôi hàng. Một tấm lòng son nguyện nhật nguyệt soi lòng thần
vậy". Sau đó, Hoàng Diệu đến nhà Võ Miếu tuẫn tiết. Cảm về cái chết bi hùng
của Hoàng Diệu, đại thần Tôn Thất Thuyết đã viết lời viếng cho Hoàng Diệu:
Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện
Bình sanh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm(4).
Dịch nghĩa:
Một chết đã thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trước
Bình sinh trung nghĩa, đương trường đại cuộc tất lưu tâm.
Từ sau năm 1954, Hoàng Diệu được đặt tên đường ở quận Hải Châu, thành
phố Đà Nẵng; đến năm 1994, đoạn đường Hoàng Diệu nối dài được đặt tiếp tên
Hoàng Diệu theo Nghị quyết ngày 10 – 7 – 1999 của Hội đồng Nhân dân thành
phố Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Tam Thuận, quận Thanh Khê có Trường
Trung học cơ sở Hoàng Diệu.
(4)
Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Hoàng Diệu.
Dẫn theo Nguyễn Hoàng Viên, Hoàng Diệu, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 99).
11
5. Ông Ích Khiêm (1829 – 1884)
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Ông Ích Khiêm tự là Mục Chi, sinh
tại làng Phong Lệ, tổng Thanh Quýt,
huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay
thuộc phường Hoà Thọ Tây, quận Cẩm
Lệ, thành phố Đà Nẵng. Ông xuất thân
trong gia đình Nho giáo, thuở nhỏ chăm
học, nổi tiếng là người thông minh. Năm
1847, Ông Ích Khiêm đỗ cử nhân, được
bổ làm việc ở nội các, rồi chuyển làm tri
huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương). Là
người tài kiêm văn võ, giỏi cầm quân,
tham gia trận mạc ở nhiều nơi, từ năm
Hình 1.6. Di chúc của Ông Ích Khiêm
1862 – 1873, Ông Ích Khiêm luôn chỉ huy
các trận đánh ở các địa bàn khó khăn, phức tạp nhất của vùng biên ải. Đó là
những trận thắng lớn trước giặc biển ở Quảng Yên (1862); thu phục thành phủ
Hải Ninh (1865); tiễu phỉ ở Lạng Sơn, Cao Bằng; phá tan 30 đồn giặc ở Thất Khê
(1868); giải vây thành Bắc Ninh khỏi tay thổ phỉ (1869); phá tan giặc ở Lục Ngạn
(1870); dẹp tan quân thổ phỉ ở Đông Triều (1871); phá sào huyệt thổ phỉ ở
Quán Tư – Hưng Hoá (1872),… Chiến công ấy đều in đậm dấu ấn chỉ huy quyết
đoán, mưu lược và tài cầm quân của Ông Ích Khiêm.
Sau nhiều trận thắng vang dội, Ông Ích Khiêm từ chức Tiểu phủ sứ được
thăng Thị độc sung tán tương quân vụ, rồi được cất lên chức Hồng lô tự khanh
biện lý bộ Lễ. Từ năm 1873 – 1874, Ông Ích Khiêm tiếp tục được đảm nhận trọng
trách tiễu phỉ ở các tỉnh phía Bắc. Sau bị bệnh nên cho về. Ông Ích Khiêm không
chỉ là chiến tướng mà còn là người có đầu óc canh tân, có quyết sách ích nước
lợi dân. Tại quê nhà Quảng Nam, Ông Ích Khiêm đã vận động dân đắp đập lấy
nước tưới tiêu cho các cánh đồng ở Phú Hoà, Bàn Thạch, Đông Hoà, Bàn Câu
(thuộc các huyện Hoà Vang, Điện Bàn, Duy Xuyên) khiến cho dân sinh ở các địa
phương nơi đây thêm khởi sắc.
Năm 1882, vua ban Ông Ích Khiêm làm lại Hồng lô tự khanh Biện lý bộ Hộ. Ở
vị trí này, ông đã dâng sớ lên vua Tự Đức đưa ra kế sách khai mỏ, đúc tiền, lập
trường diễn võ làm cho nước mạnh, dân giàu. Năm 1883, Ông Ích Khiêm được
giao việc xây dựng phòng tuyến, trấn giữ cửa biển Thuận An. Trước sức tấn
công của quân Pháp, cửa Thuận An đã không giữ được, Ông Ích Khiêm bị vua
khiển trách, đổi sang chức Biện lý bộ Lễ.
Vốn là người thẳng thắn, cương trực, năm 1883, Ông Ích Khiêm đã phê phán
những hành động chuyên quyền của một số quan lại trụ cột trong triều đình.
Đến năm 1884, nhân việc mang 50 lính về quê nhà tỉnh Quảng Nam, Ông Ích
Khiêm bị phao tin là tự tiện bắt binh mã giao thông với phủ đệ, bị cách chức,
phái đi an trí ở Bình Thuận rồi mất ở trong ngục. Đến đầu niên hiệu Hàm Nghi
12
tp
2
(1885), Ông Ích Khiêm được truy phục hàm Hàn lâm viện thị độc học sĩ. Người
dân xứ Quảng vẫn luôn nhớ và quen gọi ông là “Quan Tiễu Phong Lệ”. Từ sau
năm 1954 đến nay, Ông Ích Khiêm được đặt tên đường ở quận Hải Châu và
quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Thanh Bình, quận
Hải Châu có Trường Tiểu học Ông Ích Khiêm; trên địa bàn huyện Hoà Vang có
Trường Trung học phổ thông Ông Ích Khiêm.
th
ao
m
– Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Ông Ích Khiêm.
– Đánh giá vai trò lịch sử của Ông Ích Khiêm đối với quê hương, đất nước.
om
tp
2-
6. Huỳnh Bá Chánh (1842 – 1886)
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
Huỳnh Bá Chánh quê làng Khái Đông
(Quảng Cái), huyện Diên Phước, phủ Điện
Bàn, sau thuộc huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng
Nam, nay thuộc phường Hoà Hải, quận Ngũ
Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Ông vốn
xuất thân trong gia đình nông dân, có chí
học rộng. Năm 1873, ông đỗ cử nhân tại
trường thi Huế; năm 1875 được bổ làm tri
huyện Phù Cát, rồi Tuy Phước (1877), Phù
Mỹ (1878), tri phủ An Nhơn (1881), Tư Nghĩa
(1882). Năm 1883, Huỳnh Bá Chánh được
triệu về kinh nhận chức Giám sát Ngự sử;
Hình 1.7. Tượng Huỳnh Bá Chánh đặt tại khuôn viên
Trường THCS Huỳnh Bá Chánh, phường Hòa Hải, năm 1884 thăng lên Ngoại lang Bộ Công,
quận Ngũ Hành Sơn
rồi Bộ Lại, sung chức Hành tẩu Cơ Mật viện.
Sau sự kiện cuộc phản công quân Pháp của phái chủ chiến tại kinh thành Huế
bị thất bại và Phong trào Cần vương bùng nổ (1885), Huỳnh Bá Chánh từ quan,
trở về quê hương hưởng ứng Phong trào Nghĩa hội dưới trướng hội chủ Trần
Văn Dư. Tại địa bàn Huỳnh Bá Chánh chỉ huy, đã giành nhiều trận thắng lớn,
đánh tan các cuộc tấn công của quân Pháp và quân Nam triều. Cuối năm 1885,
Trần Văn Dư bị giết, lực lượng Nghĩa hội ở các căn cứ Quế Sơn, Tiên Phước bị
quân Pháp tấn công nên đã tập trung về căn cứ Tân Tỉnh ở Trung Lộc (Quế Sơn).
Đến năm 1886, Huỳnh Bá Chánh cùng những người tổ chức bị Pháp bắt. Giặc
Pháp khuyến dụ Huỳnh Bá Chánh đầu hàng, nhưng ông khẳng khái trả lời: Ninh
vi kê thủ, bất vi ngưu hậu (Thà làm đầu gà, không làm đuôi trâu). Thấy không thể
dụ hàng Huỳnh Bá Chánh, giặc Pháp đem ông ra hành hình nơi bến đò Chợ Củi
(gần cầu Câu Lâu, thị xã Điện Bàn). Huỳnh Bá Chánh được đặt tên đường ở quận
Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, theo Nghị quyết ngày 12 – 7 – 2002 của Hội
đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Hoà Hải, quận Ngũ
Hành Sơn, có Trường Trung học cơ sở Huỳnh Bá Chánh.
13
Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Huỳnh Bá Chánh.
7. Trần Cao Vân (1866 – 1916)
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Trần Cao Vân còn có tên là Trần Cao
Đệ, pháp danh Như Y, hiệu Hồng Việt,
Chánh Minh, Bạch Sĩ. Ông quê ở làng
Tư Phú, tổng Đa Hoà, phủ Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam, nay là xã Điện Thọ, thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ
thông minh, hiếu học, năm 1882, ông đi thi
thì mắc bệnh, không thể dự thi được. Từ
đó, vận nước với bao biến cố khiến ông
bỏ hẳn đường khoa cử, dấn thân vào con
đường cứu nước. Năm 1886, Trần Cao
Vân vào sống ở chùa Cổ Lâm (Đại Lộc),
Hình 1.8. Trần Cao Vân (1866 - 1916)
mở trường dạy học để chiêu tập lực lượng yêu nước. Năm 1892, ông vào hoạt
động ở các địa phương Bình Định, Phú Yên. Tại đây, ông kết giao với Võ Trứ và
những người cùng chí hướng.
Năm 1898, cuộc khởi nghĩa Võ Trứ thất bại, Trần Cao Vân với vị trí cố vấn đã
bị bắt giam ở nhà ngục Phú Yên. Nhờ Võ Trứ khẳng khái nhận tội, Trần Cao Vân
được tha. Năm 1900, Trần Cao Vân lại bị bắt giam tại nhà lao Bình Định vì vụ án
“Trung thiên dịch”, bị kết tội “Yêu thơ yêu ngôn” xúi nhân dân gây phiến loạn. Ông
bị đưa về giam ở Quảng Nam, đến năm 1907, mới được trả tự do. Năm 1908,
Phong trào Duy tân phát triển mạnh, đỉnh điểm là phong trào kháng thuế cự sưu,
Trần Cao Vân lại bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo, đến năm 1914 mới ra tù.
Năm 1915, Trần Cao Vân bắt liên lạc và phối hợp hoạt động cùng các nhà yêu
nước ở Trung Kỳ. Năm 1916, ông cùng với Thái Phiên và vua Duy Tân hoạch
định kế hoạch khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Cuộc khởi nghĩa tháng 5 – 1916
bị thất bại, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị kết án
tử hình. Ngày 17 – 5 – 1916, chính quyền thực dân và Nam triều đã xử chém ông
cùng những người đồng chí tại pháp trường An Hoà, sát kinh thành Huế. Từ năm
1962 đến nay, Trần Cao Vân được đặt tên đường ở quận Thanh Khê, thành phố
Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Tân Chính, quận Thanh Khê có Trường Tiểu học
Trần Cao Vân.
14
Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Trần Cao Vân.
8. Trần Quý Cáp (1870 – 1908)
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Trần Quý Cáp tên thật là Trần Nghị, tự là
Dã Hàng, Thích Phu, hiệu Thai Xuyên, quê
thôn Thai La, làng Bất Nhị, nay thuộc xã Điện
Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Vốn
người thông minh, có chí trong việc học nhưng
thi Hương nhiều lần chỉ được chấm hạng tú tài.
Sau khi trúng tuyển xuất sắc Kì thi khảo hạch
ở Quảng Nam, năm 1904, ông đỗ kì thi Hội và
Hình 1.9. Con tem Bưu chính Việt Nam
tiếp đó đỗ kì thi Đình. Ông nổi tiếng là một trong
phát hành nhân Kỉ niệm 100 năm
ngày mất Trần Quý Cáp (1908-2008)
những người học giỏi của xứ Quảng lúc bấy giờ.
Thời gian học ở Huế, Trần Quý Cáp quen thân với Phan Bội Châu cùng nhiều
nhân sĩ. Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng trở thành bộ ba duy
tân nổi tiếng đương thời. Ông kết hợp với trí thức cấp tiến ở Quảng Nam và các
địa phương ở Trung Kỳ vận động cuộc cải cách toàn diện trên nhiều lĩnh vực:
chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục,…
Tháng 3 – 1905, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng lên
đường thực hiện chuyến “Nam du” qua các tỉnh miền Trung để tìm hiểu tình hình
thực tế tại các địa phương. Đến Bình Định, nhân Kì khảo hạch, các ông lấy tên
chung là Đào Mộng Giác, làm thơ, phú cùng ứng hạch. Bài thơ Chí thành thông
thánh do Phan Châu Trinh chấp bút, bài phú Lương ngọc danh sơn do Huỳnh
Thúc Kháng và Trần Quý Cáp chấp bút đã lên tiếng phê phán lối học từ chương,
khoa cử, vạch trần sự bất lực của triều đình phong kiến, lên án chế độ Pháp
thuộc, thức tỉnh lòng yêu nước của sĩ phu. Năm 1906, Trần Quý Cáp nhận chức
giáo thọ phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Tại đây, ông chủ trương dạy học trò
chữ Tây và chữ Quốc ngữ, gây ảnh hưởng rộng đến các trường trong tỉnh như
Diên Phong, Phú Lâm, Phước Bình,…
Thực dân Pháp và chính quyền Nam Triều phát hiện ra nguy cơ từ các hoạt
động của ông, liền chuyển ông vào làm giáo thọ ở Ninh Hoà (Khánh Hoà) để xa
trung tâm Phong trào Duy tân. Đầu năm 1908, Trần Quý Cáp vào Ninh Hoà thì tại
huyện Đại Lộc (Quảng Nam) khởi lên cuộc biểu tình chống thuế cự sưu. Hoảng
sợ trước phong trào kháng thuế ngày càng lan rộng, quan đầu tỉnh Khánh Hoà
là Án sát Nguyễn Văn Mại và Bố chánh Phạm Ngọc Quát, theo mật lệnh của
Khâm sứ Trung Kỳ là Lévecque, đã cấu kết với tên công sứ Pháp tại đây bắt giam
Trần Quý Cáp, buộc ông tội “đại phản nghịch”, kết án “mạc tu hữu” (không cần
chứng cứ) rồi đưa ra chém ở bãi Sông Cạn (Ninh Hoà) vào ngày 15 – 6 – 1908.
Trần Quý Cáp mất đi nhưng công cuộc Duy tân vẫn âm thầm tiếp diễn và làm
thay đổi sâu sắc nhận thức chính trị của đa số người dân Việt Nam lúc đó. Từ sau
15
năm 1954 đến nay, Trần Quý Cáp được đặt tên đường ở quận Hải Châu, thành phố
Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ có Trường Trung học
cơ sở Trần Quý Cáp.
Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Trần Quý Cáp.
tp
2
m
9. Phan Châu Trinh (1872 – 1926)
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
Phan Châu Trinh tự Hy Mã, hiệu Tây
Hồ, quê làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước,
phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, nay là thôn
Tây Hồ, xã Tam Lộc, thị xã Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam. Năm 1900, Phan Châu Trinh
đỗ cử nhân; năm 1901, đỗ phó bảng,
được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ. Chịu ảnh
hưởng của tư tưởng cách mạng dân
chủ tư sản, Phan Châu Trinh từ bỏ quan
trường, liên lạc với Huỳnh Thúc Kháng,
Trần Quý Cáp, đề xướng Phong trào Duy
tân, lập trường dạy học theo lối mới, lập
các hội công, nông, thương, vận động cải
cách trang phục và lối sống,…
Hình 1.10. Phan Châu Trinh (1872 - 1926)
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
Năm 1905 – 1906, Phan Châu Trinh sang Trung Quốc, Nhật Bản gặp Phan Bội
Châu để bàn việc phối hợp hoạt động trong phong trào yêu nước. Khi về nước,
Phan Châu Trinh viết thư gửi Toàn quyền Đông Dương, nêu lên thảm cảnh nhân
dân Việt Nam phải gánh chịu dưới chính sách hà khắc của chính quyền Nam
triều và thực dân Pháp. Năm 1907, Phan Châu Trinh diễn thuyết tại trường Đông
Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, hô hào duy tân cải cách. Năm 1908, Phong trào Duy
tân phát triển mạnh, đỉnh điểm là phong trào kháng thuế lan ra khắp Trung Kỳ.
Phan Châu Trinh bị Pháp bắt và đày đi Côn Đảo. Nhờ Hội Nhân quyền Pháp can
thiệp với chính phủ Pháp, đến cuối năm 1911, chính phủ Pháp buộc phải trả tự
do cho Phan Châu Trinh.
Năm 1911, Phan Châu Trinh sang Pháp. Tại đây, ông tiếp tục đấu tranh yêu
cầu chính quyền Pháp ở Đông Dương phải thực hiện cải cách chính trị, tôn trọng
dân quyền. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông bị Pháp bắt giam vào ngục
Santé 15 tháng. Những năm 1917 – 1923, Phan Châu Trinh có mối quan hệ mật
thiết với Nguyễn Ái Quốc và những nhà yêu nước đang sống tại Pháp, ông phối
16
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
hợp tích cực với mọi người trong hoạt động yêu nước tại đây. Năm 1922, Phan
Châu Trinh viết “Thất điều trần” tố cáo trước dư luận các tội lớn của vua Khải
Định. Năm 1925,...
Cơ quan: ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngày ký: 2025-02-19 08:36:33 +07:00
UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ao
m
tp
2
NGUYỄN MINH HÙNG – MAI TẤN LINH (ĐỒNG CHỦ BIÊN)
HỒ QUỐC CHÍNH – PHẠM ĐÌNH ĐƯỢC– VÕ VĂN MINH – LÊ VĂN PHAN
HÀ THÚC QUANG – LƯU ANH RÔ – HUỲNH ĐÌNH QUỐC THIỆN
BÙI VĂN TIẾNG – PHẠM THỊ TRINH – HÀ VỸ
om
tp
2-
th
TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Lớ p
12
MỤC LỤC
Nội dung
Chủ đề
Trang
Danh nhân lịch sử tiêu biểu của Đất Quảng
5
2
Sơ lược về văn học viết Đất Quảng
từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay
34
3
Văn nghệ sĩ tiêu biểu của Đất Quảng
4
Đô thị hoá ở Đà Nẵng
5
Lao động, việc làm và định hướng nghề nghiệp
tp
2
1
2-
th
ao
m
42
60
om
tp
70
Nguồn
Hà Thúc Quang
H1.15
22
H1.16
23
H1.17
24
H1.18
25
Wikipedia
10
Báo Quảng Nam
Cổng thông tin điện tử thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Báo Quảng Nam
Báo Đà Nẵng
Website Hội Liên hiệp Phụ nữ
thành phố Đà Nẵng
Nguyễn Bá Khoản, Wikipedia
H1.2
8
Báo Đà Nẵng
H1.3
9
H1.4
10
H1.5
H1.19
26
H1.6
12
Bảo tàng Đà Nẵng
H1.20
27
H1.7
13
H1.21
28
H1.8
14
H1.22
29
Internet
Cổng thông tin điện tử Đảng
bộ Thành phố Hồ Chí Minh
Đài Phát thanh và Truyền
hình thành phố Đà Nẵng
Báo Quân đội Nhân dân
H1.9
H1.23
30
Internet
H1.10
16
Bảo tàng Lịch sử quốc gia
H1.11
17
Cổng thông tin điện tử thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
H1.12
18
Báo điện tử Đà Nẵng
H1.13
19
H1.14
20
m
6
Hình
ao
H1.1
44
7:
:5
13
25
2/
20
1/
0
Website Trường THCS
Huỳnh Bá Chánh
Bảo tàng Lịch sử quốc gia
Họa sĩ Đỗ Lệnh Tuấn, Bưu
chính Việt Nam
22
ao
m
th
Nguồn
-th
Trang
tp
Trang
tp
Hình
2-
th
a
DANH SÁCH HÌNH ẢNH SỬ DỤNG TRONG TÀI LIỆU
15
Quảng Nam đất nước và
nhân vật
Nhóm nhiếp ảnh học sinh
Trường THPT Thái Phiên
H2.1 H2.9
H3.1 H3.16
H4.1 H4.7
H5.1 H5.5
Ảnh
bìa
33-38 Ban biên soạn
40-56 Ban biên soạn
59-68 Ban biên soạn
71-75 Ban biên soạn
Bìa
Nguyễn Tấn Phát
th
ao
m
tp
2
LỜI NÓI ĐẦU
om
tp
2-
Các em học sinh thân mến!
2-
th
a
Các em đang sinh sống và học tập tại thành phố Đà Nẵng –
một trong những trung tâm chính trị – kinh tế – văn hoá của khu vực
miền Trung và Tây Nguyên.
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
Tài liệu Giáo dục địa phương thành phố Đà Nẵng lớp 12 được
biên soạn nhằm cung cấp cho các em những hiểu biết cơ bản về lịch
sử, địa lí, văn hoá, môi trường,... của thành phố Đà Nẵng. Tài liệu
gồm 5 chủ đề, mỗi chủ đề được xây dựng theo cấu trúc thống nhất
và đảm bảo tính lô-gic giữa các hoạt động Mở đầu – Kiến thức mới –
Luyện tập – Vận dụng. Với cấu trúc này, các em sẽ thực hiện các hoạt
động dưới sự hướng dẫn của giáo viên để hoàn thành tốt nhiệm vụ
học tập. Từ đó, các em có thêm cơ hội hiểu biết đúng về những giá
trị đặc trưng của vùng đất này, có niềm tự hào và ý thức trách nhiệm
trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị đó.
NHÓM TÁC GIẢ
th
ao
m
tp
22
Hi vọng tài liệu này sẽ mang lại cho các em những kiến thức
bổ ích và những trải nghiệm thú vị.
3
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Kí hiệu và hướng dẫn sử dụng tài liệu
Giới thiệu một số nội dung liên quan đến
chủ đề, định hướng việc tổ chức các hoạt
động học tập.
Giải thích, cung cấp thông tin liên quan
đến nội dung chủ đề.
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
KIẾN THỨC MỚI
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
MỞ ĐẦU
Từ kiến thức, học sinh được rèn luyện
phát triển các kĩ năng phù hợp với nội dung
chủ đề.
th
ao
m
tp
22
LUYỆN TẬP
VẬN DỤNG
4
Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào
thực tiễn phù hợp với nội dung chủ đề.
DANH NHÂN LỊCH SỬ TIÊU BIỂU
CỦA ĐẤT QUẢNG
tp
2
Mục tiêu:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
– Giải thích được khái niệm danh nhân lịch sử và nêu những nét chính về
vai trò của danh nhân lịch sử.
– Biết sưu tầm và sử dụng tư liệu lịch sử để tìm hiểu thân thế, sự nghiệp
danh nhân lịch sử tiêu biểu của Đất Quảng.
– Đánh giá được vai trò danh nhân lịch sử tiêu biểu của Đất Quảng đối với
quê hương đất nước.
– Giáo dục học sinh có lòng kính trọng, tri ân và học tập gương sáng danh
nhân lịch sử của Đất Quảng.
13
:5
7:
MỞ ĐẦU
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
Theo sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn(1), ở
mục tỉnh Quảng Nam, phần phong tục, có đoạn chép về đất và người xứ Quảng
như sau: "Đàn ông thì lo việc cày ruộng trồng dâu, đàn bà chuyên nghề nuôi tằm
dệt cửi. Núi sông thanh tú cho nên nhiều người có tư chất thông minh dễ học. Sĩ
phu có khí tiết cứng cỏi dám nói, nhưng vì thổ lực không hậu và thế nước chảy
gấp, nên tính người hay nóng nảy ít trầm tĩnh, duy có người học vấn uyên thâm
mới không bị phong khí ràng buộc…".
(1)
Đoạn trích trên nhận xét những gì về đất và người xứ Quảng?
Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 1, NXB Lao động, 2012, tr. 334).
5
KIẾN THỨC MỚI
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
I. Khái niệm và vai trò của danh nhân lịch sử
Danh nhân lịch sử là những người nổi tiếng, có những cống hiến nổi bật, có
tầm ảnh hưởng lớn đến cộng đồng, được xã hội ghi nhận, lưu danh trong lịch sử
dân tộc. Tuỳ theo lĩnh vực hoạt động và thành tựu, danh nhân lịch sử có thể là
những nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hoá, nhà khoa học,… Trong tiến trình
phát triển của lịch sử dân tộc, danh nhân lịch sử là người giữ vai trò quan trọng.
Họ là người khởi xướng, tập hợp lực lượng, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa chống
ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập, tự do cho dân tộc. Họ đi đầu trong công cuộc cải
cách, đổi mới; góp công lớn làm thay đổi diện mạo quê hương đất nước trên các
lĩnh vực chính trị – tư tưởng, kinh tế – xã hội, khoa học – kĩ thuật, văn hoá – nghệ
thuật,…
44
-th
ao
Trình bày khái niệm danh nhân lịch sử. Kể tên một số danh nhân lịch sử
Đất Quảng.
7:
II. Danh nhân lịch sử tiêu biểu của Đất Quảng
2/
20
25
13
:5
Danh nhân lịch sử của Đất Quảng gắn liền từ buổi đầu mở cõi về phương Nam
cho đến ngày nay. Đó là những con người tài năng, đức độ và nổi tiếng trên nhiều
lĩnh vực trong lịch sử. Họ có công lao lớn đối với quê hương và dân tộc, được
nhân dân kính trọng và tri ân.
th
ao
m
tp
22
1/
0
1. Nguyễn Văn Thoại (1761 – 1829)
Hình 1.1. Nhà thờ tiền hiền làng An Hải và Thoại Ngọc Hầu,
phường An Hải Tây, quận Sơn Trà
6
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Nguyễn Văn Thoại quê xóm An Trung, làng An Hải, huyện Diên Phước, phủ
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, thành
phố Đà Nẵng. Thời niên thiếu, Nguyễn Văn Thoại cùng gia đình di cư vào Nam,
sống ở làng Thới Bình, trên Cù Lao Dài, nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh
Long. Năm 16 tuổi, Nguyễn Văn Thoại đầu quân cho chúa Nguyễn, có nhiều
công lớn, được phong tước Hầu, nên ông thường được gọi là Thoại Ngọc Hầu.
Năm 1789, ông làm Phó quản doanh được thăng Khâm sai thượng đạo bình Tây
tướng quân.
Năm 1802, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy niên hiệu là Gia Long, Nguyễn
Văn Thoại được phong Khâm sai Thống binh cai cơ, trông coi việc ở Bắc Thành,
rồi lãnh chức Trấn thủ Lạng Sơn. Năm 1808, ông vào Nam nhận giữ chức Trấn
thủ Định Tường, thời gian sau, được cử làm Thống quân biền binh bảo hộ Cao
Miên, Trấn thủ biên giới Tây Nam. Năm 1817, Nguyễn Văn Thoại được bổ làm
Trấn Thủ Vĩnh Thanh. Năm 1818, ông đã cho thiết kế và chỉ huy việc đào kênh
Đông Xuyên (Long Xuyên) dài hơn 30 km. Kênh này sau khi hoàn thành đặt tên
là kênh Thoại Hà. Từ năm 1819 – 1824, ông cho huy động 80 000 nhân công đào
con kênh nối Châu Đốc với Hà Tiên dài gần 100 km, dẫn nước ra biển phía tây.
Đây là một công trình lớn trong công cuộc khai phá vùng đất Hậu Giang. Nguyễn
Văn Thoại còn có công lớn trong việc chiêu mộ dân đi khẩn hoang, lập làng ở
vùng An Hải, Châu Đốc, biến vùng đất hoang vu nơi biên giới trở thành trù phú.
Nguyễn Văn Thoại là một nhân vật tài kiêm văn võ, một nhà chính trị hoạt động
ngoại giao xuất sắc, một doanh điền sứ, một nhà hoạt động kinh tế có tầm nhìn xa
và năng lực tổ chức giỏi. Nguyễn Văn Thoại mất vào ngày 6 – 6 – 1829 (Kỉ Sửu)
tại nhiệm sở Châu Đốc, được an táng bên chân núi Sam (Tế Sơn2). Sau khi
Nguyễn Văn Thoại mất, vua Minh Mạng đã truy phong ông là Tráng Võ Tướng
Quân, Trụ Quốc Đô Thống. Các vua Khải Định, Bảo Đại đều phong ông là Bảo
Trung Hưng Tôn Thần. Nguyễn Văn Thoại được đặt tên đường ở quận Sơn Trà
và quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, theo Nghị quyết 07-1998/NQ-HĐ
ngày 2 – 7 – 1998 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn quận
Cẩm Lệ có Trường Trung học phổ thông Nguyễn Văn Thoại.
– Trình bày thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Văn Thoại.
– Đánh giá vai trò lịch sử của Nguyễn Văn Thoại đối với quê hương, đất nước.
Vua Minh Mạng lấy tên vợ Thoại Ngọc Hầu là Châu Thị Tế đặt tên cho núi Sam, gọi là Tế Sơn. Châu Thị
Vĩnh Tế (Châu Thị Tế) được đặt tên đường ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, theo Nghị quyết số
88/NQ-HĐND ngày 24 – 12 – 2009 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng.
(2)
7
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
2. Đỗ Thúc Tịnh (1818 – 1862)
Đỗ Thúc Tịnh tự là Cấn Trai, huý là Như Chương, người xã La Châu, tổng
Phước Tường Thượng, huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Hoà
Khương, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Đỗ Thúc Tịnh thuở nhỏ thông
minh, ham học. Năm 1846, ông đỗ cử nhân khoa Bính Ngọ. Năm 1848, ông đỗ Đệ
Tam giáp đồng tiến sĩ, đứng hàng thứ tư, là vị tiến sĩ đầu tiên của huyện Hoà Vang.
Năm 1850, ông được sơ bổ chức Tri phủ Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Nhưng chỉ
một thời gian ngắn, ông xin về quê phụng dưỡng mẹ già đang ốm nặng, rồi sau
đó thọ tang mẹ 3 năm.
25
13
Hình 1.2. Mộ Đỗ Thúc Tịnh tại thôn Hương Lam,
xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
Năm 1853, vua Tự Đức tái bổ ông làm Tri phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà.
Tại đây, ông ra sức chiêu dân lập ấp, khai khẩn ruộng hoang, hết lòng chăm lo
đời sống cho dân, được dân mến mộ tài đức, gọi ông là “Đỗ phụ”. Năm 1854,
triều đình có chỉ gọi về làm Giám sát ngự sử, nhưng dân chúng phủ Diên Khánh
quý trọng ông, làm đơn xin lưu lại, vua chuẩn y, cho ông hàm Thự Thị độc, giữ
chức vụ cũ. Tháng Chạp năm Ất Mão (1856), có chiếu bổ Đỗ Thúc Tịnh làm
Ngoại lang Binh bộ, cho lưu chức. Tiếp đó, Đỗ Thúc Tịnh được thăng chức Hồng
lô tự khanh, rồi chuyển làm Án sát tỉnh Khánh Hoà, được thăng làm Bố chính, lại
đổi về Biện lí Binh bộ. Năm 1861, quân Pháp đánh chiếm Định Tường, Biên Hoà;
Đỗ Thúc Tịnh dâng sớ lên vua xin đi chống giặc. Vua chuẩn y, sau đó bổ nhiệm
ông làm Tuần phủ Định Tường. Giữa lúc đang gánh vác trách nhiệm chống Pháp
nặng nề, Đỗ Thúc Tịnh không may lâm trọng bệnh và mất tại Vĩnh Long vào ngày
25 tháng Giêng năm Nhâm Tuất (1862).
Sinh thời, Đỗ Thúc Tịnh là người sống có đạo nghĩa, coi trọng việc thiện, đặc
biệt có tinh thần hiếu học, yêu nước thương dân. Ông để lại hậu thế hai công
8
th
ao
– Nhận xét về đóng góp của Đỗ Thúc Tịnh đối với quê hương đất nước.
– Ý nghĩa việc Đỗ Thúc Tịnh cho xây dựng Văn chỉ La Châu.
2-
m
tp
2
trình về coi trọng việc học của tiền nhân; đó là Văn chỉ La Châu (xã Hoà Khương,
huyện Hoà Vang) và Văn chỉ Phước Điền (Văn miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh
Hoà). Đỗ Thúc Tịnh được đặt tên đường ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng,
theo Nghị quyết số 07-1998/NQ-HĐ ngày 2 – 7 – 1998 của Hội đồng Nhân dân
thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang, có Trường
Trung học cơ sở Đỗ Thúc Tịnh.
om
tp
3. Phạm Phú Thứ (1821 – 1882)
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
Phạm Phú Thứ tự là Giáo Chi, hiệu
là Trúc Đường, biệt hiệu là Giá Viên;
quê làng Đông Phú, huyện Diên Phước,
tỉnh Quảng Nam, nay là xã Điện Trung,
thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm
1843, ông đỗ Tiến sĩ cập đệ, lúc đầu
bổ làm Biên tu, rồi Tri phủ Lạng Giang
(thuộc tỉnh Bắc Ninh), thăng Thị độc.
Năm 1849, ông được đề bạt về Viện Tập
hiền làm chức Khởi cư chú (thư kí ghi
lời nói và hành động của vua), rồi ở toà
Kinh diên (phòng giảng sách cho vua).
2/
20
Hình 1.3. Phạm Phú Thứ (1821 - 1882)
th
ao
m
tp
22
1/
0
Năm 1850, thấy vua Tự Đức lơ là việc triều chính, Phạm Phú Thứ dâng sớ
can, bị giáng chức làm Thừa nông dịch (chạy trạm về việc canh nông); một năm
sau, vua triệu Phạm Phú Thứ về kinh. Năm 1852, ông được khôi phục hàm
Biên tu; năm 1854, cử đi làm Tri phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi); năm 1855, được
đề bạt làm Viên ngoại Bộ Lễ; năm 1856, được thăng làm Án sát Thanh Hoá, rồi
Án sát Hà Nội. Năm 1860, được thăng làm Thị lang Bộ Lại, rồi Thự Tham tri.
Tháng 4 – 1863, Phạm Phú Thứ được cử làm Khâm sai đại thần vào Gia Định
đàm phán với nhà cầm quyền Pháp. Tiếp đó, làm phó sứ phái đoàn Phan Thanh
Giản sang Pháp chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Trong chuyến đi Pháp, phái
đoàn Phạm Phú Thứ còn đi thăm nhiều nước châu Âu như Tây Ban Nha, Anh,
Bồ Đào Nha,… Về Huế, Phạm Phú Thứ dâng lên triều đình và vua Tự Đức bản
tường trình chuyến đi trong đó có tập Tây hành nhật kí và Tây phù thi thảo ghi
chép lại những phát minh khoa học kĩ thuật, nhận định về văn minh phương Tây,
thuyết phục vua canh tân đất nước.
9
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Năm 1865, Phạm Phú Thứ được thăng Thự thượng thư bộ Hộ, sung Cơ mật
viện đại thần. Năm 1874, ông được cử làm Thự tổng đốc Hải Yên (Hải Dương,
Quảng Yên) kiêm Tổng lí thương chính đại thần. Tại đây, ông đã tích cực tổ
chức khai hoang ở hai huyện Đông Triều và Nam Sách, đặt Nha Thương chính
ở Ninh Hải, mở cảng ngoại thương ở Hải Phòng,… Năm 1876, Phạm Phú Thứ
được thăng Tổng đốc; năm 1878, thăng Thự hiệp biện đại học sĩ. Năm 1880, ông
lâm bệnh nặng, rồi mất vào năm 1882.
Phạm Phú Thứ là một đại thần, một quan kĩ trị, nhà ngoại giao, doanh điền sứ,
nhà khoa học, một người hoạch định chính sách giỏi, có tầm nhìn xa trông rộng,
có tư tưởng canh tân đất nước. Ông đã để lại nhiều trước tác giá trị, ngoài Tây
hành nhật kí, Giá Viên thi tập, Bản triều liệt thánh sự lược toản yếu, Lịch triều
thống hệ niên phả toản yếu, ông còn viết các sách chuyên môn, kĩ thuật như: Bác
vật tân biên (sách khảo về khoa học tự nhiên), Khai môi yếu pháp (phương pháp
khai mỏ), Hàng hải kim châm (kĩ thuật đi biển),… Từ năm 1956 đến nay, Phạm
Phú Thứ được đặt tên đường ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Trên địa
bàn huyện Hoà Vang có Trường Trung học phổ thông Phạm Phú Thứ.
7:
44
-th
ao
– Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Phạm Phú Thứ.
– Những trước tác (tác phẩm, công trình) nào của Phạm Phú Thứ đặt nền móng
cho các đề nghị cải cách, duy tân cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX ở nước ta?
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
4. Hoàng Diệu (1828 – 1882)
Hoàng Diệu tự là Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, quê làng Xuân Đài, huyện
Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam. Ông vốn tên là Hoàng Kim Tích, sau đổi là Hoàng Diệu. Xuất thân
trong một gia đình truyền thống Nho học, ông nổi tiếng về văn tài. Năm 1853,
Hoàng Diệu đỗ phó bảng, bổ làm Hàn lâm kiểm thảo đi nhậm chức ở các huyện
Bồng Sơn, Tuy Viễn, Tĩnh Gia, sau chuyển đi Tri phủ Lạng Giang, Đa Phúc(3).
Hoàng Diệu làm việc tạo được tiếng vang tốt nên được bổ làm Án sát Nam Định
rồi thăng lên Bố chính Bắc Ninh.
Hình 1.4. Tượng đồng Hoàng Diệu tại nhà thờ
do Viện Sử học Việt Nam đúc
10
(3)
Hình 1.5. Mộ Hoàng Diệu ở làng Xuân Đài,
thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Lạng Giang nay là huyện của tỉnh Bắc Giang; Đa Phúc nay thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Đến năm 1877, ông về Huế làm Tham tri bộ Hình, rồi đổi sang bộ Lại kiêm
quản Viện Đô sát. Trong việc thuyên chuyển, đề cử đều một lòng công bằng, mọi
người khen ông là liêm chính. Năm 1880, Hoàng Diệu được bổ nhiệm Tổng đốc
Hà Ninh, cai quản thành Hà Nội, tỉnh Hà Nam và tỉnh Ninh Bình, ông dâng sớ nói
về việc sửa sang biên phòng, cách phòng bị đề phòng quân Pháp tiến đánh,
được vua chuẩn y.
Để mở rộng đánh chiếm Bắc Kỳ, thực dân Pháp lấy cớ triều đình Huế vi
phạm Hiệp ước năm 1874 rồi đưa quân ra Bắc. Ngày 3 – 4 – 1882, quân Pháp
đổ bộ bất ngờ vào Hà Nội. Tổng đốc Hoàng Diệu ra lệnh gấp cho các địa
phương tâu lên triều đình xin thêm viện binh để kịp thời đối phó. Mờ sáng ngày
25 – 4 – 1882, Henri Rivière gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu buộc quân đội triều
đình phải hạ khí giới, giao thành, còn Hoàng Diệu cùng các quan văn võ trong
thành Hà Nội phải đến nộp mình cho Pháp. Sau đó, quân Pháp đã nổ súng tấn
công thành khi chưa đến thời hạn của tối hậu thư. Ngay từ đầu, Hoàng Diệu đã
đốc thúc tướng sĩ chiến đấu dũng cảm. Khi trận chiến đang diễn ra ác liệt thì
kho thuốc súng trong thành bị bốc cháy khiến tinh thần quân sĩ hoang mang.
Chớp thời cơ, quân Pháp tràn vào thành. Sức cùng lực kiệt, Hoàng Diệu về
hành cung bái vọng, thảo tờ di biểu để lại cho vua với lời thống thiết: "… Thành
mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết
có quản gì, nguyện xin theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn
dặm, huyết lệ đôi hàng. Một tấm lòng son nguyện nhật nguyệt soi lòng thần
vậy". Sau đó, Hoàng Diệu đến nhà Võ Miếu tuẫn tiết. Cảm về cái chết bi hùng
của Hoàng Diệu, đại thần Tôn Thất Thuyết đã viết lời viếng cho Hoàng Diệu:
Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện
Bình sanh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm(4).
Dịch nghĩa:
Một chết đã thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trước
Bình sinh trung nghĩa, đương trường đại cuộc tất lưu tâm.
Từ sau năm 1954, Hoàng Diệu được đặt tên đường ở quận Hải Châu, thành
phố Đà Nẵng; đến năm 1994, đoạn đường Hoàng Diệu nối dài được đặt tiếp tên
Hoàng Diệu theo Nghị quyết ngày 10 – 7 – 1999 của Hội đồng Nhân dân thành
phố Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Tam Thuận, quận Thanh Khê có Trường
Trung học cơ sở Hoàng Diệu.
(4)
Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Hoàng Diệu.
Dẫn theo Nguyễn Hoàng Viên, Hoàng Diệu, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 99).
11
5. Ông Ích Khiêm (1829 – 1884)
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Ông Ích Khiêm tự là Mục Chi, sinh
tại làng Phong Lệ, tổng Thanh Quýt,
huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay
thuộc phường Hoà Thọ Tây, quận Cẩm
Lệ, thành phố Đà Nẵng. Ông xuất thân
trong gia đình Nho giáo, thuở nhỏ chăm
học, nổi tiếng là người thông minh. Năm
1847, Ông Ích Khiêm đỗ cử nhân, được
bổ làm việc ở nội các, rồi chuyển làm tri
huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương). Là
người tài kiêm văn võ, giỏi cầm quân,
tham gia trận mạc ở nhiều nơi, từ năm
Hình 1.6. Di chúc của Ông Ích Khiêm
1862 – 1873, Ông Ích Khiêm luôn chỉ huy
các trận đánh ở các địa bàn khó khăn, phức tạp nhất của vùng biên ải. Đó là
những trận thắng lớn trước giặc biển ở Quảng Yên (1862); thu phục thành phủ
Hải Ninh (1865); tiễu phỉ ở Lạng Sơn, Cao Bằng; phá tan 30 đồn giặc ở Thất Khê
(1868); giải vây thành Bắc Ninh khỏi tay thổ phỉ (1869); phá tan giặc ở Lục Ngạn
(1870); dẹp tan quân thổ phỉ ở Đông Triều (1871); phá sào huyệt thổ phỉ ở
Quán Tư – Hưng Hoá (1872),… Chiến công ấy đều in đậm dấu ấn chỉ huy quyết
đoán, mưu lược và tài cầm quân của Ông Ích Khiêm.
Sau nhiều trận thắng vang dội, Ông Ích Khiêm từ chức Tiểu phủ sứ được
thăng Thị độc sung tán tương quân vụ, rồi được cất lên chức Hồng lô tự khanh
biện lý bộ Lễ. Từ năm 1873 – 1874, Ông Ích Khiêm tiếp tục được đảm nhận trọng
trách tiễu phỉ ở các tỉnh phía Bắc. Sau bị bệnh nên cho về. Ông Ích Khiêm không
chỉ là chiến tướng mà còn là người có đầu óc canh tân, có quyết sách ích nước
lợi dân. Tại quê nhà Quảng Nam, Ông Ích Khiêm đã vận động dân đắp đập lấy
nước tưới tiêu cho các cánh đồng ở Phú Hoà, Bàn Thạch, Đông Hoà, Bàn Câu
(thuộc các huyện Hoà Vang, Điện Bàn, Duy Xuyên) khiến cho dân sinh ở các địa
phương nơi đây thêm khởi sắc.
Năm 1882, vua ban Ông Ích Khiêm làm lại Hồng lô tự khanh Biện lý bộ Hộ. Ở
vị trí này, ông đã dâng sớ lên vua Tự Đức đưa ra kế sách khai mỏ, đúc tiền, lập
trường diễn võ làm cho nước mạnh, dân giàu. Năm 1883, Ông Ích Khiêm được
giao việc xây dựng phòng tuyến, trấn giữ cửa biển Thuận An. Trước sức tấn
công của quân Pháp, cửa Thuận An đã không giữ được, Ông Ích Khiêm bị vua
khiển trách, đổi sang chức Biện lý bộ Lễ.
Vốn là người thẳng thắn, cương trực, năm 1883, Ông Ích Khiêm đã phê phán
những hành động chuyên quyền của một số quan lại trụ cột trong triều đình.
Đến năm 1884, nhân việc mang 50 lính về quê nhà tỉnh Quảng Nam, Ông Ích
Khiêm bị phao tin là tự tiện bắt binh mã giao thông với phủ đệ, bị cách chức,
phái đi an trí ở Bình Thuận rồi mất ở trong ngục. Đến đầu niên hiệu Hàm Nghi
12
tp
2
(1885), Ông Ích Khiêm được truy phục hàm Hàn lâm viện thị độc học sĩ. Người
dân xứ Quảng vẫn luôn nhớ và quen gọi ông là “Quan Tiễu Phong Lệ”. Từ sau
năm 1954 đến nay, Ông Ích Khiêm được đặt tên đường ở quận Hải Châu và
quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Thanh Bình, quận
Hải Châu có Trường Tiểu học Ông Ích Khiêm; trên địa bàn huyện Hoà Vang có
Trường Trung học phổ thông Ông Ích Khiêm.
th
ao
m
– Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Ông Ích Khiêm.
– Đánh giá vai trò lịch sử của Ông Ích Khiêm đối với quê hương, đất nước.
om
tp
2-
6. Huỳnh Bá Chánh (1842 – 1886)
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
Huỳnh Bá Chánh quê làng Khái Đông
(Quảng Cái), huyện Diên Phước, phủ Điện
Bàn, sau thuộc huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng
Nam, nay thuộc phường Hoà Hải, quận Ngũ
Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Ông vốn
xuất thân trong gia đình nông dân, có chí
học rộng. Năm 1873, ông đỗ cử nhân tại
trường thi Huế; năm 1875 được bổ làm tri
huyện Phù Cát, rồi Tuy Phước (1877), Phù
Mỹ (1878), tri phủ An Nhơn (1881), Tư Nghĩa
(1882). Năm 1883, Huỳnh Bá Chánh được
triệu về kinh nhận chức Giám sát Ngự sử;
Hình 1.7. Tượng Huỳnh Bá Chánh đặt tại khuôn viên
Trường THCS Huỳnh Bá Chánh, phường Hòa Hải, năm 1884 thăng lên Ngoại lang Bộ Công,
quận Ngũ Hành Sơn
rồi Bộ Lại, sung chức Hành tẩu Cơ Mật viện.
Sau sự kiện cuộc phản công quân Pháp của phái chủ chiến tại kinh thành Huế
bị thất bại và Phong trào Cần vương bùng nổ (1885), Huỳnh Bá Chánh từ quan,
trở về quê hương hưởng ứng Phong trào Nghĩa hội dưới trướng hội chủ Trần
Văn Dư. Tại địa bàn Huỳnh Bá Chánh chỉ huy, đã giành nhiều trận thắng lớn,
đánh tan các cuộc tấn công của quân Pháp và quân Nam triều. Cuối năm 1885,
Trần Văn Dư bị giết, lực lượng Nghĩa hội ở các căn cứ Quế Sơn, Tiên Phước bị
quân Pháp tấn công nên đã tập trung về căn cứ Tân Tỉnh ở Trung Lộc (Quế Sơn).
Đến năm 1886, Huỳnh Bá Chánh cùng những người tổ chức bị Pháp bắt. Giặc
Pháp khuyến dụ Huỳnh Bá Chánh đầu hàng, nhưng ông khẳng khái trả lời: Ninh
vi kê thủ, bất vi ngưu hậu (Thà làm đầu gà, không làm đuôi trâu). Thấy không thể
dụ hàng Huỳnh Bá Chánh, giặc Pháp đem ông ra hành hình nơi bến đò Chợ Củi
(gần cầu Câu Lâu, thị xã Điện Bàn). Huỳnh Bá Chánh được đặt tên đường ở quận
Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, theo Nghị quyết ngày 12 – 7 – 2002 của Hội
đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Hoà Hải, quận Ngũ
Hành Sơn, có Trường Trung học cơ sở Huỳnh Bá Chánh.
13
Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Huỳnh Bá Chánh.
7. Trần Cao Vân (1866 – 1916)
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Trần Cao Vân còn có tên là Trần Cao
Đệ, pháp danh Như Y, hiệu Hồng Việt,
Chánh Minh, Bạch Sĩ. Ông quê ở làng
Tư Phú, tổng Đa Hoà, phủ Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam, nay là xã Điện Thọ, thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ
thông minh, hiếu học, năm 1882, ông đi thi
thì mắc bệnh, không thể dự thi được. Từ
đó, vận nước với bao biến cố khiến ông
bỏ hẳn đường khoa cử, dấn thân vào con
đường cứu nước. Năm 1886, Trần Cao
Vân vào sống ở chùa Cổ Lâm (Đại Lộc),
Hình 1.8. Trần Cao Vân (1866 - 1916)
mở trường dạy học để chiêu tập lực lượng yêu nước. Năm 1892, ông vào hoạt
động ở các địa phương Bình Định, Phú Yên. Tại đây, ông kết giao với Võ Trứ và
những người cùng chí hướng.
Năm 1898, cuộc khởi nghĩa Võ Trứ thất bại, Trần Cao Vân với vị trí cố vấn đã
bị bắt giam ở nhà ngục Phú Yên. Nhờ Võ Trứ khẳng khái nhận tội, Trần Cao Vân
được tha. Năm 1900, Trần Cao Vân lại bị bắt giam tại nhà lao Bình Định vì vụ án
“Trung thiên dịch”, bị kết tội “Yêu thơ yêu ngôn” xúi nhân dân gây phiến loạn. Ông
bị đưa về giam ở Quảng Nam, đến năm 1907, mới được trả tự do. Năm 1908,
Phong trào Duy tân phát triển mạnh, đỉnh điểm là phong trào kháng thuế cự sưu,
Trần Cao Vân lại bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo, đến năm 1914 mới ra tù.
Năm 1915, Trần Cao Vân bắt liên lạc và phối hợp hoạt động cùng các nhà yêu
nước ở Trung Kỳ. Năm 1916, ông cùng với Thái Phiên và vua Duy Tân hoạch
định kế hoạch khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Cuộc khởi nghĩa tháng 5 – 1916
bị thất bại, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị kết án
tử hình. Ngày 17 – 5 – 1916, chính quyền thực dân và Nam triều đã xử chém ông
cùng những người đồng chí tại pháp trường An Hoà, sát kinh thành Huế. Từ năm
1962 đến nay, Trần Cao Vân được đặt tên đường ở quận Thanh Khê, thành phố
Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Tân Chính, quận Thanh Khê có Trường Tiểu học
Trần Cao Vân.
14
Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Trần Cao Vân.
8. Trần Quý Cáp (1870 – 1908)
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
Trần Quý Cáp tên thật là Trần Nghị, tự là
Dã Hàng, Thích Phu, hiệu Thai Xuyên, quê
thôn Thai La, làng Bất Nhị, nay thuộc xã Điện
Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Vốn
người thông minh, có chí trong việc học nhưng
thi Hương nhiều lần chỉ được chấm hạng tú tài.
Sau khi trúng tuyển xuất sắc Kì thi khảo hạch
ở Quảng Nam, năm 1904, ông đỗ kì thi Hội và
Hình 1.9. Con tem Bưu chính Việt Nam
tiếp đó đỗ kì thi Đình. Ông nổi tiếng là một trong
phát hành nhân Kỉ niệm 100 năm
ngày mất Trần Quý Cáp (1908-2008)
những người học giỏi của xứ Quảng lúc bấy giờ.
Thời gian học ở Huế, Trần Quý Cáp quen thân với Phan Bội Châu cùng nhiều
nhân sĩ. Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng trở thành bộ ba duy
tân nổi tiếng đương thời. Ông kết hợp với trí thức cấp tiến ở Quảng Nam và các
địa phương ở Trung Kỳ vận động cuộc cải cách toàn diện trên nhiều lĩnh vực:
chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục,…
Tháng 3 – 1905, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng lên
đường thực hiện chuyến “Nam du” qua các tỉnh miền Trung để tìm hiểu tình hình
thực tế tại các địa phương. Đến Bình Định, nhân Kì khảo hạch, các ông lấy tên
chung là Đào Mộng Giác, làm thơ, phú cùng ứng hạch. Bài thơ Chí thành thông
thánh do Phan Châu Trinh chấp bút, bài phú Lương ngọc danh sơn do Huỳnh
Thúc Kháng và Trần Quý Cáp chấp bút đã lên tiếng phê phán lối học từ chương,
khoa cử, vạch trần sự bất lực của triều đình phong kiến, lên án chế độ Pháp
thuộc, thức tỉnh lòng yêu nước của sĩ phu. Năm 1906, Trần Quý Cáp nhận chức
giáo thọ phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Tại đây, ông chủ trương dạy học trò
chữ Tây và chữ Quốc ngữ, gây ảnh hưởng rộng đến các trường trong tỉnh như
Diên Phong, Phú Lâm, Phước Bình,…
Thực dân Pháp và chính quyền Nam Triều phát hiện ra nguy cơ từ các hoạt
động của ông, liền chuyển ông vào làm giáo thọ ở Ninh Hoà (Khánh Hoà) để xa
trung tâm Phong trào Duy tân. Đầu năm 1908, Trần Quý Cáp vào Ninh Hoà thì tại
huyện Đại Lộc (Quảng Nam) khởi lên cuộc biểu tình chống thuế cự sưu. Hoảng
sợ trước phong trào kháng thuế ngày càng lan rộng, quan đầu tỉnh Khánh Hoà
là Án sát Nguyễn Văn Mại và Bố chánh Phạm Ngọc Quát, theo mật lệnh của
Khâm sứ Trung Kỳ là Lévecque, đã cấu kết với tên công sứ Pháp tại đây bắt giam
Trần Quý Cáp, buộc ông tội “đại phản nghịch”, kết án “mạc tu hữu” (không cần
chứng cứ) rồi đưa ra chém ở bãi Sông Cạn (Ninh Hoà) vào ngày 15 – 6 – 1908.
Trần Quý Cáp mất đi nhưng công cuộc Duy tân vẫn âm thầm tiếp diễn và làm
thay đổi sâu sắc nhận thức chính trị của đa số người dân Việt Nam lúc đó. Từ sau
15
năm 1954 đến nay, Trần Quý Cáp được đặt tên đường ở quận Hải Châu, thành phố
Đà Nẵng. Trên địa bàn phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ có Trường Trung học
cơ sở Trần Quý Cáp.
Trình bày những nét chính về thân thế, sự nghiệp của Trần Quý Cáp.
tp
2
m
9. Phan Châu Trinh (1872 – 1926)
13
:5
7:
44
-th
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
Phan Châu Trinh tự Hy Mã, hiệu Tây
Hồ, quê làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước,
phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, nay là thôn
Tây Hồ, xã Tam Lộc, thị xã Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam. Năm 1900, Phan Châu Trinh
đỗ cử nhân; năm 1901, đỗ phó bảng,
được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ. Chịu ảnh
hưởng của tư tưởng cách mạng dân
chủ tư sản, Phan Châu Trinh từ bỏ quan
trường, liên lạc với Huỳnh Thúc Kháng,
Trần Quý Cáp, đề xướng Phong trào Duy
tân, lập trường dạy học theo lối mới, lập
các hội công, nông, thương, vận động cải
cách trang phục và lối sống,…
Hình 1.10. Phan Châu Trinh (1872 - 1926)
th
ao
m
tp
22
1/
0
2/
20
25
Năm 1905 – 1906, Phan Châu Trinh sang Trung Quốc, Nhật Bản gặp Phan Bội
Châu để bàn việc phối hợp hoạt động trong phong trào yêu nước. Khi về nước,
Phan Châu Trinh viết thư gửi Toàn quyền Đông Dương, nêu lên thảm cảnh nhân
dân Việt Nam phải gánh chịu dưới chính sách hà khắc của chính quyền Nam
triều và thực dân Pháp. Năm 1907, Phan Châu Trinh diễn thuyết tại trường Đông
Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, hô hào duy tân cải cách. Năm 1908, Phong trào Duy
tân phát triển mạnh, đỉnh điểm là phong trào kháng thuế lan ra khắp Trung Kỳ.
Phan Châu Trinh bị Pháp bắt và đày đi Côn Đảo. Nhờ Hội Nhân quyền Pháp can
thiệp với chính phủ Pháp, đến cuối năm 1911, chính phủ Pháp buộc phải trả tự
do cho Phan Châu Trinh.
Năm 1911, Phan Châu Trinh sang Pháp. Tại đây, ông tiếp tục đấu tranh yêu
cầu chính quyền Pháp ở Đông Dương phải thực hiện cải cách chính trị, tôn trọng
dân quyền. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông bị Pháp bắt giam vào ngục
Santé 15 tháng. Những năm 1917 – 1923, Phan Châu Trinh có mối quan hệ mật
thiết với Nguyễn Ái Quốc và những nhà yêu nước đang sống tại Pháp, ông phối
16
ao
m
tp
2-
th
a
om
tp
2-
th
ao
m
tp
2
hợp tích cực với mọi người trong hoạt động yêu nước tại đây. Năm 1922, Phan
Châu Trinh viết “Thất điều trần” tố cáo trước dư luận các tội lớn của vua Khải
Định. Năm 1925,...
 





